Thứ Tư, 24 tháng 6, 2020
Nước Nga kỷ niệm ngày chiến thắng câu đầu tiên bài diễn văn tống thống thường đọc...
Thưa các công dân Nga yêu quý thưa toàn thể cựu binh kính mến, thưa toàn thể binh sỹ, hạ sỹ quan, sỹ quan, đô đốc...
Còn ta khi nào kỷ niệm câu mở đầu
Kính thưa..... các vị lãnh đạo, nguyên lãnh đạo, nói thật có những vị lãnh đạo chưa biết mùi chiến tranh là gì nhưng ngồi luôn hàng danh dự.
Nhân dịp này mình đăng lại bài viết của mình năm ngoái.
Vì sao nước Nga vĩ đại và người Việt Nam nên học ở Nước Nga điều gì?
Hôm qua xem duyệt binh của họ về ngày lễ chiến thắng mà tủi thân cho đất nước mình quá. Nước mình cũng có quá khứ hào hùng đâu kém, đánh nam dẹp bắc, làm nghĩa vụ quốc tế Cam và Lào, nhưng hầu như ta chưa có một buổi lễ tôn vinh cho xứng tầm, dù vẫn nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng giai cấp công nông và nhà nước cộng sản. Nước Nga thì khác những gì họ kỷ niệm là tưởng nhớ đến những người lính Xô Viết đã ngã xuống trên chiến trường, cho dù hiện nay nước Liên Xô không còn nữa. Nhưng những di sản của Liên Xô để lại cho người dân Nga vẫn đang được hun đúc lên để thể hiện lòng yêu nước và giáo dục người dân về cuộc chiến vệ quốc vĩ đại.
Trong hàng ghế ngồi danh dự bao giờ cũng là những cựu binh lấp lánh huân chương, những người lính đã từng chiến đấu dưới ngọn cờ liên bang xô viết, xen kẽ những người lính già là những thể hệ trẻ, tạo ra một niệm tin về sự noi gương của lớp người đi trước 'Người lính già đầu bạc kể mãi chuyện nguyên phong'
Trong bài diễn văn của tống thống Nga bao giờ cũng nhắc tới cựu binh trước tiếp tới là chiến sỹ và sau cùng mới là các tướng lĩnh. Vì sao lại có cách phát biểu như vậy? Theo tôi khi có chiến tranh thì sự ủng hộ của nhân dân đối với nhà nước là vô hạn, tiếp tới là sự đóng góp xương máu của các cựu binh ngoài mặt trận, rồi đến là những chiến sỹ bảo vệ đất nước, sau cùng mới tới những tướng lĩnh chỉ huy. Cách làm của người Nga giống như những gì vị tướng huyền thoại của Việt Nam từng phát biểu ' Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ'
Năm ngoái khi một cựu binh xen lấn vào hàng ngũ dành cho tống thống. Khi cận vệ Liên Bang đẩy người cựu binh ra khỏi khu vực bảo vệ, ngay lập tức Putin tiến tới dìu người cựu binh đi chung hàng với mình. Nó xóa nhòa ngăn cách giữa vị nguyên thủ và người lính già. Nó làm cho người ta thấy tầng lớp đã xả thân vì đất nước đáng được trân trọng, và người ta sẽ sẵn sàng đổ máu để bảo vệ một thành quá thiêng liêng.
Còn Việt Nam thì sao?
Trong thành phần mở bài của diễn văn luôn bắt đầu kính thưa , tiếp tới là những thành phần khách mời, thậm chí là có người chả biết gì về chiến tranh,sau đó mới tới các cựu binh và chiến sỹ sau cùng. Trên hàng ghế mời danh dự luôn là những quan chức không đào đâu ra một người lính, thậm chí có những quan chức mặt còn non choẹt. Việt Nam và Nga có điểm tương đồng đều đất nước bước ra từ những cuộc chiến, nhưng những gì người Nga làm với lịch sử khiến chúng ta phải học hỏi từ họ. Việt Nam chính thức ngưng tiếng súng mới tầm 20 năm, và giành độc lập thống nhất 44 năm, nhưng có vẻ những quá khứ hào hùng đang dần bị quên lãng, phong trào xét lại lịch sử diễn ra một cách rầm rộ, thậm chí còn đòi xem lại vai trò của thực dân và đế quốc trong cuộc chiến xâm lược. Vừa mới đây thôi khi công bố lấy ngày 7-5 là ngày chiến thắng điện biên phủ, nhiều người mang mác chuyên gia đã rầm rộ phản đối vì họ sợ lấy ngày chiến tranh làm nhiều người đau lòng. Hàng năm mỗi ngày kỷ niệm những cựu binh già chỉ đứng xa xa nhìn đoàn quân tiến qua lễ đài, mà đáng ra trên hàng ghế danh dự chỗ ngồi của họ mới đúng, vì họ xứng đáng nhận được gì mình đã cống hiến. Việt Nam ngày nay vẫn nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, nhưng cách mà người ta xem nhẹ cuộc chiến vệ quốc đã có phần nào bị xóa nhòa lãng quên trong bối cảnh thị trường. Cũng đúng thôi vì nước ta còn nghèo, nhưng ko vì thế mà lãng quên xóa nhòa tất cả. Xem hình ảnh nước Nga từ những cựu binh tới những em nhỏ mới thấy điều họ làm đáng trân trọng ‘ Không một ai bị lãng quên’ Đó là câu khẩu hiệu của người Nga mỗi khi nhắc tới cuộc chiến tranh vệ quốc.
Một đất nước muốn phát triển hùng mạnh, tất nhiên một đất nước cần phải tôn trọng những giá trị lịch sử cơ bản, trong vòng quay bánh xe lịch sử. Nước Nga ngày nay vẫn trân trọng gìn giữ và phát huy những giá trị trong 70 năm tồn tại một xô viết cộng sản. Còn chúng ta phải chăng những giá trị lịch sử đã bị phai nhòa theo năm tháng? Phải chăng chúng ta coi nhẹ việc giáo dục cho từng lớp kế cận về một lòng tự hào dân tộc. Và khi chúng ta cố gắng quên đi thì đất nước mãi không trưởng thành. Và người ta tự hỏi " Rồi đây khi lớp đầu bạc kinh qua hai cuộc chiến khuất núi, đám trẻ du học phương tây lên ngồi ghế hàng lãnh đạo, liệu chúng có biết gìn giữ những giá trị cha ông đi trước đã làm?"
Nhiều người tự hỏi vì sao nước Nga vĩ đại? Bởi họ có một dân tộc vĩ đại, và người dân luôn trân trọng những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Một đất nước mà biết trân trọng lịch sử thì sẽ không bao giờ bị khuất phục ở tương lai.
Fb: Linh Nguyễn
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3219819368156971&id=100003868198858
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020
Nguyễn Nhạc tiếp sứ Anh
Nguồn: Quốc Bảo - Hội những người thích tìm hiểu lịch sử
***
Tháng 2/1778, hai người Việt cập bến Calcutta (Bengal, Ấn Độ). Họ là cựu thần của chúa Nguyễn, đi nhờ tàu buôn phương Tây từ Đà Nẵng chạy vào Gia Định, nhưng vì gặp gió mạnh nên tàu bị chệch khỏi lộ trình ấy và buộc phải đi thẳng sang Ấn. Nhận thấy tiềm năng thương mại từ việc này, chính quyền thuộc địa Anh tại Bengal cử Charles Chapman đưa 2 viên quan này về nước, đồng thời thăm dò tình hình Đàng Trong. Tàu của họ đến Quy Nhơn tháng 7 năm ấy, nơi Chapman gặp gỡ với vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc.
***
"Lúc 6 giờ sáng hôm sau (25/7), một lời nhắn được đưa tới chỗ chúng tôi, báo rằng Đức vua (nguyên văn: his Majesty) đã sẵn sàng đón tiếp chúng tôi. Thế là chúng tôi theo chân người dẫn đường gần nửa dặm, tới khi khung cảnh một cung điện trên gò đất cao hiện ra trước mắt; tại đây chúng tôi được yêu cầu để lại toàn bộ tùy tùng, và tháo bỏ kiếm, vì không ai được phép vào tham kiến khi mang vũ khí. Những thủ tục này đã xong, chúng tôi tiến đến cung điện. Trước cửa là hai hàng lính, mỗi hàng 100 người, với giáo (spears), sóc (pikes), kích (halberds), v.v. đủ kiểu dáng, một số cờ xí tung bay, và từ bên trong thò ra nòng súng của 2 khẩu đại bác dài bằng đồng. Ở giữa khoảng sân đầy sỏi trước cửa cung điện, là nơi đặt quà tặng của chúng tôi. Ngay khi chúng tôi tiến vào sân, viên quan và người dẫn dường bảo rằng hãy tuân theo đúng nghi thức mà ông ta làm, bao gồm bái lạy ba lần với trán chạm mặt đất. Tuy nhiên, cách thức chào này quá lăng nhục đối với chúng tôi, nên chúng tôi kiên quyết cũng cúi đầu chừng đấy lần, nhưng theo lối người Anh. Chúng tôi leo khoảng năm sáu bậc thềm lên gian phòng nơi Đức vua và triều thần của ông tề tựu. Cửa mở toang phía trước và hai bên, mái lợp ngói và xây theo kiểu Đàng Trong, chống đỡ bởi những cột gỗ tốt, mặt tường phía sau ốp gỗ; tựa vào đấy là ngôi báu, nằm trên hai ba bậc thềm so với nền nhà; và trên cao là một chiếc ghế tựa, sơn đỏ, trang trí hình đầu rồng, nơi nhà vua ngồi, phía trước ông là 1 chiếc bàn nhỏ đặt 1 tấm nệm bằng lụa màu đỏ, thêu hoa vàng, để ông ta tựa vào. Mỗi bên ngai vàng đặt 1 chiếc ghế tựa; một cái do một người em trai của ông ngồi, cái kia bỏ trống, mà, như tôi hiểu, thuộc về người em còn lại, bấy giờ đang ở Đồng Nai (Donai). Vài băng ghế dài nằm phía sau, nơi các quan viên ngồi, theo thứ bậc của họ. […]
Tôi sau đó, thông qua người thông ngôn, giới thiệu bản thân với nhà vua, nói rằng “Tôi là công bộc (servant) của chính quyền Anh tại Bengal, được ủy thác đến đây để thiết lập giao thương với cư dân Đàng Trong.” Ông ta nói: tiếng tăm của người Anh trên biển đã đến tai ông, và ông nghe rằng họ đứng trên mọi quốc gia khác về số lượng tàu thuyền, và vượt trội về tài điều khiển chúng; nhưng họ sử dụng ưu thế này sai trái, vì ông ta cũng được biết họ tấn công và cướp bóc bất kể tàu bè nào mình gặp; ông rất sẵn lòng cho phép người Anh buôn bán ở cảng của mình, và hy vọng đổi lại họ sẽ không quấy rối tàu thuyền và các phương tiện khác của ông. Tôi trả lời: phần đầu tiên trong thông tin của ông, về việc tôn trọng sức mạnh trên biển của người Anh, là cực kì đúng; nhưng phần sau hoàn toàn sai, và hẳn đã được phao đến tai ông bởi những kẻ ghen ghét sự thịnh vượng của chúng tôi, hòng tạo ấn tượng không tốt đẹp và bất công về chúng tôi. Người Anh lúc này đang giữ hòa bình với mọi quốc gia; và tàu bè của họ đi khắp mọi vùng đã biết trên thế giới, thương nhân của họ trứ danh về lòng trung thực và ngay thẳng khi thỏa thuận. Ông ta sau đấy báo cho tôi, rằng người Anh có thể buôn bán ở cảng của ông; và sau vài lời giải thích, đi đến quyết định rằng các tàu có ba cột buồm phải trả phí 7.000 quan (họ cho phép chúng tôi đổi 5 quan cho 1 dollar Tây Ban Nha), với tàu hai buồm là 4.000, và tàu nhỏ hơn thì 2.000 quan mỗi chiếc.
Đức vua sau đó sớm lui về phòng riêng, nhưng ít lâu sau lại triệu chúng tôi đến đấy, khi đã cởi bỏ áo bào và mũ thiết triều, đổi sang một chiếc áo khoác (jacket) lụa đơn giản, khuy đơm bằng những hạt kim cương nhỏ, và một dải lụa đỏ quấn quanh đầu kiểu như khăn turban. Cuộc đối thoại của chúng tôi ở đây đại lược rằng: ông ta mở chuyện bằng việc nhắc lại thiện chí của mình với người Anh, cũng như mong muốn liên kết với chúng tôi – tuy nhiên, để giữ thể diện trước mặt triều thần, ông mới đề cập đến món tiền mà tàu của chúng tôi phải trả để tự do buôn bán, nhưng nhằm có được tình hữu nghị với nước Anh ông sẽ không bao giờ bắt họ phải trả nó, mà sẽ dành cho họ mọi đặc ân trong quyền hạn của ông. Ông liệt kê những vật phẩm sản xuất ở nước mình, như hồ tiêu, bạch đậu khấu, quế, gỗ trầm, ngà voi, thiếc và nhiều thứ khác, mà ông nói rằng sự vô tri của người dân khiến họ không biết tận dụng chúng; và vì lí do ấy, cũng như nhằm chỉ dạy người dân của ông về nghệ thuật quân sự, ông thành tâm mong muốn Thống đốc Bengal gửi cho mình vài người có năng lực.
Ông ta sau đấy thổ lộ vài dự định tương lai cho tôi; chúng không gì khác ngoài thu phục vương quốc Chân Lạp (Cambodia), với toàn bộ bán đảo, đến tận nước Xiêm, và những tỉnh thuộc về Đàng Trong ở phía bắc, bấy giờ đang nằm trong tay người Đàng Ngoài. Để tiến hành những điều này, ông muốn có sự hỗ trợ từ một số tàu thuyền Anh; đổi lại ông sẽ ban cho họ những vùng đất để định cư (make them such grants of land for settlements) mà họ thấy phù hợp.
Tôi hứa với ông ta sẽ báo cáo thành thực những điều ông đã nói cho Thống đốc Bengal. Ông ta đặc biệt yêu cầu rằng, ngoài những việc trên, tôi hãy gửi cho ông ta một con ngựa, bất kể tốn kém bao nhiêu, trên con tàu đầu tiên đến Đàng Trong, với màu nâu đỏ. Sau khi được đãi trà và trầu cau, chúng tôi xin phép rời đi. Vào buổi chiều ông ta gửi chúng tôi ba thứ giấy tờ; một đóng dấu bằng chiếc ấn lớn của vương quốc, trình bày những điều kiện để tàu thuyền Anh buôn bán trong cương thổ của ông; hai tờ kia đóng bằng một chiếc ấn nhỏ hơn; một cái miêu tả về con ngựa, v.v.; cái kia chứa giấy phép để cập bến bất kì cảng nào của ông.
[…]
Bản thân Nguyễn Nhạc (nguyên văn: Ignaack) có tài lược, nhưng dưới trướng ông là những quan viên cai trị kém cỏi; họ đều là kẻ kém học thức. Đói kém, và bạn đồng hành của nó, dịch bệnh, đã hủy diệt một nửa cư dân nước này. Thật kinh hoàng trước lời tường thuật về cách thức mà số người còn lại sử dụng để duy trì sự tồn tại khốn khổ: Ở Huế, kinh đô, mặc dù nằm trong tay người Đàng Ngoài, và được chu cấp tốt hơn bất kì nơi nào khác, thịt người được bán công khai ở chợ.
Quân lực của Nguyễn Nhạc trên đất liền rất nhỏ bé, và kém cỏi về quân sự đến mức, tôi có thể quả quyết rằng 300 người có kỷ luật sẽ quét sạch toàn bộ quân đội của ông ta <("). Thủy quân của ông ta, bao gồm một ít thuyền chèo (gallies) và vài thuyền mành (junks) đoạt từ người Hoa, hầu như cũng tệ hại như vậy. Và cuối cùng, chính quyền của ông ta bị căm ghét cực độ; nhưng vì tinh thần của người dân đã kiệt quệ bởi vô vàn thảm họa phải hứng chịu, họ thiếu lòng dũng cảm để chống đối hiệu quả. Nhiều binh lính của ông ta, và gần như toàn bộ những người chủ chốt mà tôi đã gặp, công khai tuyên bố với tôi rằng họ bất đắc dĩ phải phủ phục, và bày tỏ mong muốn người Anh dành cho họ sự bảo hộ; cam đoan với chúng tôi rằng, chỉ cần một đội quân xuất hiện, cả đất nước sẽ chạy đến gia nhập <(").
[…]
Nếu Công ty (Công ty Đông Ấn Anh) quyết định lập một điểm định cư tại Đàng Trong, nó hẳn sẽ được thực hiện trên những nguyên tắc cực kì chính đáng và chi phí nhỏ. Một vài người trong vương thất (royal family – chỉ họ Nguyễn), bên cạnh hai viên quan ở Bengal, cùng nhiều tướng sĩ của chính quyền cũ, hối thúc tôi trình bày với chính quyền Bengal để đem đến sự giúp đỡ cho họ, hứa hẹn rằng sẽ có một sự ủng hộ lớn bất cứ khi nào chúng tôi thành tâm đứng về phía họ. Khôi phục vị quân vương hợp pháp (Nguyễn Ánh) trở lại ngai vàng, bấy giờ là một mong muốn rất phổ biến, nên không có gì phải hoài nghi sự thành thực trong lời đề nghị của họ. Giải thoát một dân tộc bất hạnh, rên rỉ dưới ách áp bức tàn bạo sẽ là một hành động xứng đáng với nước Anh. Năm mươi lính bộ binh châu Âu, pháo binh bằng một nửa số ấy, và 200 lính sepoy (lính bản địa Ấn Độ phục vụ cho Anh) sẽ là đủ cho mục tiêu này lẫn mọi mục tiêu khác <("). Dân bản xứ Đàng Trong kém hơn nhiều cư dân Hindostan (bắc Ấn Độ) về kiến thức quân sự; tuy nhiên, tôi không nghi ngờ gì một đội quân xứ ấy, nếu có kỉ luật tốt và trả lương đầy đủ, sẽ hữu dụng với chúng ta, và đóng góp cho an ninh của các thuộc địa mà chúng ta có thể có được ở phương đông, như cách lính sepoy đã đóng góp cho lãnh thổ của chúng ta ở Ấn Độ. Trong tình huống viễn chinh họ sẽ vượt trội hơn, vì hoàn toàn tự do khỏi định kiến tôn giáo, và không gặp trở ngại gì khi đi biển.
Trong khi Đàng Trong nằm trong tình trạng rối loạn hiện tại, một cánh cửa hứa hẹn đã mở ra cho quốc gia châu Âu đầu tiên có thể đạt được chỗ đứng trên nước này; vì vậy nếu Công ty cân nhắc kế hoạch lập một cơ sở ở Đàng Trong, không được phí phạm thời gian mà phải đưa nó vào thực thi ngay."
***
Nguồn: Chapman, Charles (1778), “Narrative of a voyage to Cochin China”
(*Hai viên quan của chúa Nguyễn đi theo Charles Chapman, một người qua đời dọc đường tại Malacca, người kia theo tàu đến Huế rồi tìm chỗ trú ở nhà họ hàng.)
Ảnh minh họa: Đại diện Công ti Đông Ấn Anh gặp một ông vua Ấn Độ nào đấy
Nguồn: Quốc Bảo - Hội những người thích tìm hiểu lịch sử
***
Tháng 2/1778, hai người Việt cập bến Calcutta (Bengal, Ấn Độ). Họ là cựu thần của chúa Nguyễn, đi nhờ tàu buôn phương Tây từ Đà Nẵng chạy vào Gia Định, nhưng vì gặp gió mạnh nên tàu bị chệch khỏi lộ trình ấy và buộc phải đi thẳng sang Ấn. Nhận thấy tiềm năng thương mại từ việc này, chính quyền thuộc địa Anh tại Bengal cử Charles Chapman đưa 2 viên quan này về nước, đồng thời thăm dò tình hình Đàng Trong. Tàu của họ đến Quy Nhơn tháng 7 năm ấy, nơi Chapman gặp gỡ với vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc.
***
"Lúc 6 giờ sáng hôm sau (25/7), một lời nhắn được đưa tới chỗ chúng tôi, báo rằng Đức vua (nguyên văn: his Majesty) đã sẵn sàng đón tiếp chúng tôi. Thế là chúng tôi theo chân người dẫn đường gần nửa dặm, tới khi khung cảnh một cung điện trên gò đất cao hiện ra trước mắt; tại đây chúng tôi được yêu cầu để lại toàn bộ tùy tùng, và tháo bỏ kiếm, vì không ai được phép vào tham kiến khi mang vũ khí. Những thủ tục này đã xong, chúng tôi tiến đến cung điện. Trước cửa là hai hàng lính, mỗi hàng 100 người, với giáo (spears), sóc (pikes), kích (halberds), v.v. đủ kiểu dáng, một số cờ xí tung bay, và từ bên trong thò ra nòng súng của 2 khẩu đại bác dài bằng đồng. Ở giữa khoảng sân đầy sỏi trước cửa cung điện, là nơi đặt quà tặng của chúng tôi. Ngay khi chúng tôi tiến vào sân, viên quan và người dẫn dường bảo rằng hãy tuân theo đúng nghi thức mà ông ta làm, bao gồm bái lạy ba lần với trán chạm mặt đất. Tuy nhiên, cách thức chào này quá lăng nhục đối với chúng tôi, nên chúng tôi kiên quyết cũng cúi đầu chừng đấy lần, nhưng theo lối người Anh. Chúng tôi leo khoảng năm sáu bậc thềm lên gian phòng nơi Đức vua và triều thần của ông tề tựu. Cửa mở toang phía trước và hai bên, mái lợp ngói và xây theo kiểu Đàng Trong, chống đỡ bởi những cột gỗ tốt, mặt tường phía sau ốp gỗ; tựa vào đấy là ngôi báu, nằm trên hai ba bậc thềm so với nền nhà; và trên cao là một chiếc ghế tựa, sơn đỏ, trang trí hình đầu rồng, nơi nhà vua ngồi, phía trước ông là 1 chiếc bàn nhỏ đặt 1 tấm nệm bằng lụa màu đỏ, thêu hoa vàng, để ông ta tựa vào. Mỗi bên ngai vàng đặt 1 chiếc ghế tựa; một cái do một người em trai của ông ngồi, cái kia bỏ trống, mà, như tôi hiểu, thuộc về người em còn lại, bấy giờ đang ở Đồng Nai (Donai). Vài băng ghế dài nằm phía sau, nơi các quan viên ngồi, theo thứ bậc của họ. […]
Tôi sau đó, thông qua người thông ngôn, giới thiệu bản thân với nhà vua, nói rằng “Tôi là công bộc (servant) của chính quyền Anh tại Bengal, được ủy thác đến đây để thiết lập giao thương với cư dân Đàng Trong.” Ông ta nói: tiếng tăm của người Anh trên biển đã đến tai ông, và ông nghe rằng họ đứng trên mọi quốc gia khác về số lượng tàu thuyền, và vượt trội về tài điều khiển chúng; nhưng họ sử dụng ưu thế này sai trái, vì ông ta cũng được biết họ tấn công và cướp bóc bất kể tàu bè nào mình gặp; ông rất sẵn lòng cho phép người Anh buôn bán ở cảng của mình, và hy vọng đổi lại họ sẽ không quấy rối tàu thuyền và các phương tiện khác của ông. Tôi trả lời: phần đầu tiên trong thông tin của ông, về việc tôn trọng sức mạnh trên biển của người Anh, là cực kì đúng; nhưng phần sau hoàn toàn sai, và hẳn đã được phao đến tai ông bởi những kẻ ghen ghét sự thịnh vượng của chúng tôi, hòng tạo ấn tượng không tốt đẹp và bất công về chúng tôi. Người Anh lúc này đang giữ hòa bình với mọi quốc gia; và tàu bè của họ đi khắp mọi vùng đã biết trên thế giới, thương nhân của họ trứ danh về lòng trung thực và ngay thẳng khi thỏa thuận. Ông ta sau đấy báo cho tôi, rằng người Anh có thể buôn bán ở cảng của ông; và sau vài lời giải thích, đi đến quyết định rằng các tàu có ba cột buồm phải trả phí 7.000 quan (họ cho phép chúng tôi đổi 5 quan cho 1 dollar Tây Ban Nha), với tàu hai buồm là 4.000, và tàu nhỏ hơn thì 2.000 quan mỗi chiếc.
Đức vua sau đó sớm lui về phòng riêng, nhưng ít lâu sau lại triệu chúng tôi đến đấy, khi đã cởi bỏ áo bào và mũ thiết triều, đổi sang một chiếc áo khoác (jacket) lụa đơn giản, khuy đơm bằng những hạt kim cương nhỏ, và một dải lụa đỏ quấn quanh đầu kiểu như khăn turban. Cuộc đối thoại của chúng tôi ở đây đại lược rằng: ông ta mở chuyện bằng việc nhắc lại thiện chí của mình với người Anh, cũng như mong muốn liên kết với chúng tôi – tuy nhiên, để giữ thể diện trước mặt triều thần, ông mới đề cập đến món tiền mà tàu của chúng tôi phải trả để tự do buôn bán, nhưng nhằm có được tình hữu nghị với nước Anh ông sẽ không bao giờ bắt họ phải trả nó, mà sẽ dành cho họ mọi đặc ân trong quyền hạn của ông. Ông liệt kê những vật phẩm sản xuất ở nước mình, như hồ tiêu, bạch đậu khấu, quế, gỗ trầm, ngà voi, thiếc và nhiều thứ khác, mà ông nói rằng sự vô tri của người dân khiến họ không biết tận dụng chúng; và vì lí do ấy, cũng như nhằm chỉ dạy người dân của ông về nghệ thuật quân sự, ông thành tâm mong muốn Thống đốc Bengal gửi cho mình vài người có năng lực.
Ông ta sau đấy thổ lộ vài dự định tương lai cho tôi; chúng không gì khác ngoài thu phục vương quốc Chân Lạp (Cambodia), với toàn bộ bán đảo, đến tận nước Xiêm, và những tỉnh thuộc về Đàng Trong ở phía bắc, bấy giờ đang nằm trong tay người Đàng Ngoài. Để tiến hành những điều này, ông muốn có sự hỗ trợ từ một số tàu thuyền Anh; đổi lại ông sẽ ban cho họ những vùng đất để định cư (make them such grants of land for settlements) mà họ thấy phù hợp.
Tôi hứa với ông ta sẽ báo cáo thành thực những điều ông đã nói cho Thống đốc Bengal. Ông ta đặc biệt yêu cầu rằng, ngoài những việc trên, tôi hãy gửi cho ông ta một con ngựa, bất kể tốn kém bao nhiêu, trên con tàu đầu tiên đến Đàng Trong, với màu nâu đỏ. Sau khi được đãi trà và trầu cau, chúng tôi xin phép rời đi. Vào buổi chiều ông ta gửi chúng tôi ba thứ giấy tờ; một đóng dấu bằng chiếc ấn lớn của vương quốc, trình bày những điều kiện để tàu thuyền Anh buôn bán trong cương thổ của ông; hai tờ kia đóng bằng một chiếc ấn nhỏ hơn; một cái miêu tả về con ngựa, v.v.; cái kia chứa giấy phép để cập bến bất kì cảng nào của ông.
[…]
Bản thân Nguyễn Nhạc (nguyên văn: Ignaack) có tài lược, nhưng dưới trướng ông là những quan viên cai trị kém cỏi; họ đều là kẻ kém học thức. Đói kém, và bạn đồng hành của nó, dịch bệnh, đã hủy diệt một nửa cư dân nước này. Thật kinh hoàng trước lời tường thuật về cách thức mà số người còn lại sử dụng để duy trì sự tồn tại khốn khổ: Ở Huế, kinh đô, mặc dù nằm trong tay người Đàng Ngoài, và được chu cấp tốt hơn bất kì nơi nào khác, thịt người được bán công khai ở chợ.
Quân lực của Nguyễn Nhạc trên đất liền rất nhỏ bé, và kém cỏi về quân sự đến mức, tôi có thể quả quyết rằng 300 người có kỷ luật sẽ quét sạch toàn bộ quân đội của ông ta <("). Thủy quân của ông ta, bao gồm một ít thuyền chèo (gallies) và vài thuyền mành (junks) đoạt từ người Hoa, hầu như cũng tệ hại như vậy. Và cuối cùng, chính quyền của ông ta bị căm ghét cực độ; nhưng vì tinh thần của người dân đã kiệt quệ bởi vô vàn thảm họa phải hứng chịu, họ thiếu lòng dũng cảm để chống đối hiệu quả. Nhiều binh lính của ông ta, và gần như toàn bộ những người chủ chốt mà tôi đã gặp, công khai tuyên bố với tôi rằng họ bất đắc dĩ phải phủ phục, và bày tỏ mong muốn người Anh dành cho họ sự bảo hộ; cam đoan với chúng tôi rằng, chỉ cần một đội quân xuất hiện, cả đất nước sẽ chạy đến gia nhập <(").
[…]
Nếu Công ty (Công ty Đông Ấn Anh) quyết định lập một điểm định cư tại Đàng Trong, nó hẳn sẽ được thực hiện trên những nguyên tắc cực kì chính đáng và chi phí nhỏ. Một vài người trong vương thất (royal family – chỉ họ Nguyễn), bên cạnh hai viên quan ở Bengal, cùng nhiều tướng sĩ của chính quyền cũ, hối thúc tôi trình bày với chính quyền Bengal để đem đến sự giúp đỡ cho họ, hứa hẹn rằng sẽ có một sự ủng hộ lớn bất cứ khi nào chúng tôi thành tâm đứng về phía họ. Khôi phục vị quân vương hợp pháp (Nguyễn Ánh) trở lại ngai vàng, bấy giờ là một mong muốn rất phổ biến, nên không có gì phải hoài nghi sự thành thực trong lời đề nghị của họ. Giải thoát một dân tộc bất hạnh, rên rỉ dưới ách áp bức tàn bạo sẽ là một hành động xứng đáng với nước Anh. Năm mươi lính bộ binh châu Âu, pháo binh bằng một nửa số ấy, và 200 lính sepoy (lính bản địa Ấn Độ phục vụ cho Anh) sẽ là đủ cho mục tiêu này lẫn mọi mục tiêu khác <("). Dân bản xứ Đàng Trong kém hơn nhiều cư dân Hindostan (bắc Ấn Độ) về kiến thức quân sự; tuy nhiên, tôi không nghi ngờ gì một đội quân xứ ấy, nếu có kỉ luật tốt và trả lương đầy đủ, sẽ hữu dụng với chúng ta, và đóng góp cho an ninh của các thuộc địa mà chúng ta có thể có được ở phương đông, như cách lính sepoy đã đóng góp cho lãnh thổ của chúng ta ở Ấn Độ. Trong tình huống viễn chinh họ sẽ vượt trội hơn, vì hoàn toàn tự do khỏi định kiến tôn giáo, và không gặp trở ngại gì khi đi biển.
Trong khi Đàng Trong nằm trong tình trạng rối loạn hiện tại, một cánh cửa hứa hẹn đã mở ra cho quốc gia châu Âu đầu tiên có thể đạt được chỗ đứng trên nước này; vì vậy nếu Công ty cân nhắc kế hoạch lập một cơ sở ở Đàng Trong, không được phí phạm thời gian mà phải đưa nó vào thực thi ngay."
***
Nguồn: Chapman, Charles (1778), “Narrative of a voyage to Cochin China”
(*Hai viên quan của chúa Nguyễn đi theo Charles Chapman, một người qua đời dọc đường tại Malacca, người kia theo tàu đến Huế rồi tìm chỗ trú ở nhà họ hàng.)
Ảnh minh họa: Đại diện Công ti Đông Ấn Anh gặp một ông vua Ấn Độ nào đấy
Thứ Tư, 3 tháng 6, 2020
Những gì chúng ta đang thấy trong cuộc cách mạng màu ở Mỹ thực ra đã được Các Mác chỉ ra hàng trăm năm trước.
Theo Các Mác, quan hệ con người trong chủ nghĩa tư bản bị tha hóa thành quan hệ hàng hóa. Thực ra chúng ta chẳng còn giao tiếp với nhau như những sinh vật biết suy nghĩ nữa mà tuyệt đối qua hàng hóa. Bạn cứ nghĩ xem bạn còn bao nhiêu quan hệ con người đúng nghĩa, tức là không qua một món hàng nào đó?
Trong chủ nghĩa tư bản, chính sức lao động của con người cũng là một loại hàng hóa.
Bạn đi làm, có rất nhiều bạn bè đồng nghiệp, tưởng như rất thân thiết quan tâm nhau, nhưng đó đâu phải quan hệ con người, đó toàn là quan hệ hàng hóa. Hàng hóa của bạn giao tiếp với hàng hóa của người khác. Không tin bạn cứ nghỉ việc đi xem 6 tháng sau bạn còn người quen nào không?
Ngay cả quan hệ vợ chồng bây giờ cũng là quan hệ hàng hóa. Đàn bà đánh giá đàn ông qua khả năng kiếm tiền, vô cùng ít cô gái chấp nhận yêu bạn vì bạn có tâm hồn đẹp, nhưng nếu bạn có một căn hộ đẹp và một chiếc BMW thì có thể chắc chắn là 90% con gái VN sẵn sàng yêu bạn. Tôi nói 90% để các bạn đỡ thất vọng đấy.
Vậy nên việc người biểu tình cướp bóc các cửa hiệu chính là một sự phản kháng vô thức với sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Họ luôn bị đánh giá qua hàng hóa, và họ luôn đánh giá người khác qua hàng hóa, nên hàng hóa sẽ trở thành vật tế thần của những kẻ phẫn uất.
Họ đốt xe Mercedes vì đó là hình ảnh người giàu trong mắt họ, họ cướp LV, Gucci, Prada,... vì đó là các biểu tượng của giới trung lưu, chúng như những hình nộm của sự căm ghét đã chứa chất hàng chục năm, hàng trăm năm trong người họ.
Hãy cố giữ lấy những quan hệ phi hàng hóa, nếu bạn còn may mắn có được!
Theo Các Mác, quan hệ con người trong chủ nghĩa tư bản bị tha hóa thành quan hệ hàng hóa. Thực ra chúng ta chẳng còn giao tiếp với nhau như những sinh vật biết suy nghĩ nữa mà tuyệt đối qua hàng hóa. Bạn cứ nghĩ xem bạn còn bao nhiêu quan hệ con người đúng nghĩa, tức là không qua một món hàng nào đó?
Trong chủ nghĩa tư bản, chính sức lao động của con người cũng là một loại hàng hóa.
Bạn đi làm, có rất nhiều bạn bè đồng nghiệp, tưởng như rất thân thiết quan tâm nhau, nhưng đó đâu phải quan hệ con người, đó toàn là quan hệ hàng hóa. Hàng hóa của bạn giao tiếp với hàng hóa của người khác. Không tin bạn cứ nghỉ việc đi xem 6 tháng sau bạn còn người quen nào không?
Ngay cả quan hệ vợ chồng bây giờ cũng là quan hệ hàng hóa. Đàn bà đánh giá đàn ông qua khả năng kiếm tiền, vô cùng ít cô gái chấp nhận yêu bạn vì bạn có tâm hồn đẹp, nhưng nếu bạn có một căn hộ đẹp và một chiếc BMW thì có thể chắc chắn là 90% con gái VN sẵn sàng yêu bạn. Tôi nói 90% để các bạn đỡ thất vọng đấy.
Vậy nên việc người biểu tình cướp bóc các cửa hiệu chính là một sự phản kháng vô thức với sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Họ luôn bị đánh giá qua hàng hóa, và họ luôn đánh giá người khác qua hàng hóa, nên hàng hóa sẽ trở thành vật tế thần của những kẻ phẫn uất.
Họ đốt xe Mercedes vì đó là hình ảnh người giàu trong mắt họ, họ cướp LV, Gucci, Prada,... vì đó là các biểu tượng của giới trung lưu, chúng như những hình nộm của sự căm ghét đã chứa chất hàng chục năm, hàng trăm năm trong người họ.
Hãy cố giữ lấy những quan hệ phi hàng hóa, nếu bạn còn may mắn có được!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
