Thứ Năm, 27 tháng 2, 2020

Bài phát biểu về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam vào năm 2012 tại trường Đảng Nico Lopez (Cuba) của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nếu Việt Nam thành công trọng sự nghiệp đổi mới, thì có lẽ ông được xếp ngang hàng với các nhà lý luận CNXH kinh điển khác trong lịch sử.

-----------------------------------------

Thưa các Đồng chí và các bạn

Nhân dịp sang thăm Cuba, hôm nay Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức vui mừng đến thăm Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez - một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba. Thay mặt các đồng chí trong Đoàn và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chào đoàn kết và hữu nghị. Chúc mối quan hệ tốt đẹp của chúng ta ngày càng phát triển, mãi mãi gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau, cùng vững bước trên con đường đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Trong không khí tin cậy, thắm tình đồng chí anh em, tôi xin trao đổi với các đồng chí một số ý kiến chung quanh vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học. Tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam để các đồng chí tham khảo, cùng trao đổi. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong 25 năm qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Như chúng ta biết, chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại ngày nay.

Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chúng tôi dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở nhiều nước, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Có phải như vậy không? Có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không?

Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, nó không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, chủ nghĩa tư bản thế giới đã một lần nữa bộc lộ rõ bản chất của mình bằng việc thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu. Và hôm nay chúng ta đang chứng kiến những diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, bắt đầu từ năm 2008 ở nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước ở các châu lục. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng chưa thành công. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn vào lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật đơn giản là bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình "đồng thuận Oasinhtơn" vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý.

Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững cả về kinh tế, xã hội và sinh thái của nó; như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề đảm bảo để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát phần lớn nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải cạnh tranh thắng - thua vì lợi ích vị kỷ của cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Hồ Chí Minh, Phiđen Caxtrô và nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn và đang kiên trì, kiên định theo đuổi.

Thưa các đồng chí,

Như các đồng chí và các bạn đã biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do".

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: "Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa". Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Mới đây, tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là điều mà chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm, làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng tôi đã nhận thức rằng: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng tôi phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc.

Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng chúng tôi, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng tôi, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (vì chúng tôi còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đảng chúng tôi coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển văn hóa đồng bộ, tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng tôi xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng tôi chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng tôi nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng tôi xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng chúng tôi kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hoá v.v... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Thưa các đồng chí,

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thực sự đem lại những thay đổi tích cực cho đất nước chúng tôi trong hơn 25 năm qua. Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm nghìn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam/điôxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh; riêng tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà đồng chí Phiđen đến thăm năm 1973, vẫn có đến 45% diện tích đất nông nghiệp còn có bom mìn sót lại. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng tôi. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. Đó là một thực tế ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 25 năm qua với mức tăng trưởng trung bình đạt 7 - 8% mỗi năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp gần 11 lần; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không chỉ đã đảm bảo được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 80% GDP. Xuất khẩu cũng tăng mạnh, đạt xấp xỉ 100 tỉ USD năm 2011. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 200 tỉ USD vào cuối năm 2011. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 34% từ kinh tế nhà nước, 5% từ kinh tế tập thể, 31% từ kinh tế hộ, 11% từ kinh tế tư nhân trong nước và 19% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Hiện dân số của Việt Nam là hơn 86 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 70% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỉ lệ người nghèo trung bình mỗi năm giảm từ 2 - 3% và cứ 10 năm giảm còn một nửa; giảm từ 75% năm 1986 xuống còn 9,5% năm 2010. Đến nay, hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 9 lần trong 25 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm gần 3 lần; tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm khoảng 6 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73 tuổi năm 2010. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng tôi đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hoá cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 25 triệu người sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hoá các Mục tiêu Thiên niên kỷ.

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến hết sức tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, an ninh được đảm bảo; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X của chúng tôi đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được "những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử". Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế.

Thưa các đồng chí,

Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng tôi cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước.

Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng còn thấp, thiếu bền vững; hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn nhiều hạn chế; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, hiện tượng tham nhũng, lãng phí, sa sút về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống có xu hướng lan rộng trong không ít cán bộ, đảng viên. Điều không thể không nhắc đến là các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình" nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chúng tôi nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hướng tới chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và tiến tới không thể đảo ngược được. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Hiện nay, chúng tôi đang đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính. Về xã hội, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Vừa qua, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài. Vì vậy, bên cạnh việc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy nó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.

Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình mà còn phải từ thực tiễn thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hoá như hiện nay, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, ở bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng tôi chủ trương phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và đứng vững trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Trên đây tôi đã giới thiệu vắn tắt với các đồng chí và các bạn một số vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam để các đồng chí tham khảo. Chúng tôi ý thức được rằng, đây là công việc vô cùng phức tạp đối với chúng tôi, là công việc chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa mò mẫm, rút kinh nghiệm; vừa qua mới chỉ là những bước đi ban đầu, còn rất hạn chế. Rất mong được các đồng chí góp ý. Vả lại, chúng ta đều biết, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội có thể giống nhau nhưng biện pháp, cách đi đến các mục tiêu đó có thể rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Đó là cả một không gian sáng tạo to lớn, đầy sức sống.

Sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, một số nhà tư tưởng phương Tây đã tuyên bố về "sự cáo chung của lịch sử". Nhiều chính khách và phần tử cơ hội đã dự báo về sự sụp đổ tiếp theo của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới. Nhưng lịch sử đã không diễn ra như họ nghĩ. Trung Quốc, Việt Nam, Lào,…đang đổi mới thành công, giành được nhiều thành tựu và tiếp tục vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Cuba vẫn hiên ngang đứng vững, vẫn là tấm gương sáng về tiến bộ và công bằng xã hội, về đoàn kết quốc tế, về tinh thần bất khuất vì tự do cho các dân tộc và phẩm giá con người. Và những bước tiến cách mạng đang diễn ra ở Vênêxuêla, Bôlivia, Êcuađo... cùng sự lớn mạnh của các phong trào cánh tả tại nhiều nước Mỹ Latinh khác thể hiện trào lưu hướng tới chủ nghĩa xã hội đang nổi lên mạnh mẽ tại Tây Bán cầu này. Các nước xã hội chủ nghĩa khác tại Châu Á vẫn tiếp tục con đường tiến lên phía trước. Nhiều đảng cánh tả, các phong trào nhân dân tiến bộ các nước tại các châu lục ngày càng giương cao khẩu hiệu đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội và xác định ngày càng rõ rằng đây là sự lựa chọn duy nhất đúng để vượt qua những bế tắc của mô hình phát triển đang khủng hoảng hiện nay. Đó là những bằng chứng đầy khích lệ về sức sống của chủ nghĩa xã hội.

Thưa các đồng chí,

Chúng tôi rất vui mừng được biết, Đảng Cộng sản Cuba tại Đại hội VI (tháng 4-2011) và Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 01-2012) vừa qua, đã có những quyết sách chiến lược quan trọng để tạo động lực mới phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nhân dân Cuba dũng cảm, anh hùng trong chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo và năng động trong xây dựng đất nước nhất định sẽ đạt được những thành tựu to lớn, đưa Cuba vượt qua những khó khăn trên con đường phát triển, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Cuba. Chúng tôi mong muốn, hai Đảng và hai nước chúng ta sẽ tiếp tục cùng sát cánh bên nhau vững bước trên con đường vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Đó cũng là niềm tin và tình cảm của chúng tôi gửi tới các đồng chí./.

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2020

- Cái gì nặng nhất trên đời?
- Cái đó của đàn ông.
- Tại sao?
- Vì nó đã xuống rồi thì không thể nhấc lên được.
- Còn cái gì nhẹ nhất trên đời?
- Cũng là cái đó.
- Tại sao?
- Vì có thể nhấc nó lên chỉ bằng một ý nghĩ.

Tuy nhiên trên đời còn một thứ nặng không kém và nhẹ không kém cái đó - chỉ số chứng khoán.

Nhìn bọn Mẽo bay hơi gần 10% giá chỉ sau 2 ngày mà kinh hoàng. Thị trường chứng khoán Mỹ hiện nay có giá trị khoảng 34 ngàn tỷ đô (mọi thị trường còn lại khoảng 44 ngàn tỷ). Như vậy 10% của nó là khoảng 3400 tỷ đô.

Bạn cứ hình dung nếu giá đất HN trung bình là 5 ngàn đô 1m vuông, thì số tiền 3400 tỷ đô kia đủ mua 680 triệu mét vuông, tương đương 680 km vuông, tương đương một hình vuông mỗi cạnh 26km, tương đương với toàn bộ nội thành Hà Nội hiện nay!

Vậy mà số tài sản đó bốc hơi chỉ vì một sự lo sợ vì con virus lạ sau đúng 2 đêm!
Nguồn: Fb Thiên Lương

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

26/2/1966: Thảm sát Bình An

Vụ việc bắt đầu vào ngày 23/1/1966, khi quân lính thuộc sư đoàn bộ binh “Mãnh Hổ” Hàn Quốc bất ngờ tổ chức một cuộc tấn công vào xã Bình An (nay là xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Chúng bao vây từ 4 phía với quyết tâm tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân Giải phóng, nhưng đã bị đánh trả quyết liệt.

Tức tối vì không đạt được mục đích, ngày 7/2/1966, quân Hàn Quốc tiến hành một chiến dịch tấn công bằng vũ khí hạng nặng. Từ sáng sớm, các đơn vị pháo binh nã đạn cấp tập vào Bình An. Khi pháo ngừng, lính Hàn Quốc lập tức ập đến. Chúng tìm kiếm các hầm trú ẩn của dân ven làng, thả lựu đạn cay bắt mọi người phải chui ra lên rồi thả sức tàn sát. Chúng xả súng bắn vào bất cứ ai gặp trên đường hoặc bắt rồi hành hạ cho đến chết.

Ngày 26 tháng 2 đi vào lịch sử xã Bình An cũng như lịch sử tỉnh Bình Định như là một ngày đẫm máu và nước mắt với sự kiện thảm khốc diễn ra tại Gò Dài (thôn An Vinh). Trước khi kết thúc chiến dịch thảm sát kéo dài 3 tuần lễ, bọn lính Nam Hàn đã dồn tất cả những người chúng bắt được ở các nơi về đây. Như những con dã thú, chúng đã giết hại 380 người bằng những hành động man rợ nhất. Chúng điên cuồng hãm hiếp phụ nữ rồi giết chết dã man bằng cách dùng lưỡi lê đâm vào cửa mình, chất rơm đốt lửa thiêu sống trẻ em…

Vụ thảm sát đã gây nên nỗi kinh hoàng. Sau những ngày hãi hùng, nhiều người còn sống sót phải bỏ làng ra đi. Từ một làng quê trù phú, Bình An bao trùm một không khí chết chóc, hoang tàn. Di tích còn lại về vụ thảm sát Gò Dài là một ngôi mộ tập thể dài 33m, rộng 1,5m chôn xác 380 nạn nhân.

Chiến dịch thảm sát của địch đã để lại cho Bình An những hậu quả thật thê thảm. Tổng cộng có trên 1.000 dân lành bị giết hại, trong đó phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em. 1.535 trong tổng số 1.592 ngôi nhà bị tàn phá, 649 con trâu, bò bị bắn chết… Sự sống ở xã Bình An bị hủy diệt đến nỗi dân các làng không thể tiếp tục sinh sống được nữa phải phiêu bạt đi khắp nơi, đến 2 năm sau mới có người trở về.
Nguồn: - Muitenbac777- của diễn đàn Lịch sử Việt Nam







Sám hối: CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG VIỆT NAM CỦA HOA KỲ - SỰ PHI LÝ VÔ ĐẠO ĐỨC CỦA CHÚNG TA
(Cựu chiến binh vì hòa bình Brian Willson; Dịch: Ngô Mạnh Hùng)

Ngày tưởng niệm ở Mỹ, ban đầu là Ngày trang trí, được tổ chức ngay sau khi kết thúc Nội chiến Mỹ. Đây là một ngày lễ quốc gia để tưởng nhớ những người đã chết khi phục vụ trong lực lượng vũ trang. Ngày truyền thống này bao gồm việc trang trí mộ của những người đã chết bằng hoa tươi.

Là một cựu chiến binh tham chiến ở Việt Nam, tôi biết những mất mát và sự đau khổ của hơn ba triệu lính Mỹ phục vụ ở Việt Nam (hơn 6 triệu người được huy động), thủy quân lục chiến, thủy thủ và lính không quân, 58.313 người trong số họ đã trả cái giá cuối cùng là có tên trên Bức tường Việt Nam ở Washington DC. Riêng bức tường tưởng niệm của bang Oregon cũng đã có 803 cái tên trên đó.

Chức năng của một đài tưởng niệm là để bảo tồn bộ nhớ. Vào Ngày Tưởng niệm Hoa Kỳ, ngày 30 tháng 5 năm 2016 này, tôi muốn lưu giữ ký ức về tất cả các khía cạnh của cuộc chiến tranh Hoa Kỳ tiến hành chống lại người dân Đông Nam Á ở Việt Nam, Lào và Campuchia - điều mà chúng ta gọi là Chiến tranh Việt Nam - cũng như những tác động bi thảm của nó đối với con người và văn hóa của chúng ta. Sự chữa lành và phục hồi của chính tôi đòi hỏi tôi phải mô tả một cách trung thực về cuộc chiến và hiểu nó đã tác động đến mình như thế nào về mặt tư tưởng, tinh thần và chính trị.

Tương tự như vậy, sự tưởng nhớ cần phải được thực hiện cho cả binh lính của chúng ta và các nạn nhân ở tất cả các quốc gia khác bị ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh xâm lược của Hoa Kỳ. Ví dụ, Hoa Kỳ đã khiến gần 7.000 người lính tử trận trong khi giết tới một triệu người chỉ riêng ở Afghanistan, tỷ lệ là 1/143.

Điều quan trọng là phải xác định rất cụ thể nỗi mất mát và sự đau khổ mà chúng ta đã gây ra cho người Việt Nam - một dân tộc chỉ muốn độc lập khỏi các lực lượng chiếm đóng nước ngoài, bất kể là người Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản hay Hoa Kỳ. Thật vinh dự, và trong một số trường hợp là anh hùng, quân đội của chúng ta đã phục vụ và chiến đấu ở Đông Nam Á, nhưng sự thật là chúng tôi phục vụ như những tấm bia đỡ đạn, thực chất là lính đánh thuê vì những lý do khác với những gì chúng tôi đã được nghe. Khi hiểu được bản chất thực sự của chiến tranh, tôi cảm thấy bị chính phủ của mình, tôn giáo của mình lừa dối và phản bội, khi nó biến văn hóa của chúng  tôi thành Chủ nghĩa ngoại lệ của Mỹ, điều đó đã gây bất lợi cho nhân loại của chúng ta, như cuộc hành trình của chính tôi. Vì vậy, nói sự thật khi phát hiện ra nó là điều cần thiết để phục hồi nhân phẩm của chính tôi.

Tôi choáng váng trước lượng hỏa lực mà Mỹ đã sử dụng, về những cái chết và sự hủy diệt khủng khiếp mà nó gây ra cho người dân vô tội. Dưới đây là một số thống kê:

+ 75% diện tích miền Nam Việt Nam được coi là khu vực bắn phá tự do, nghĩa là khu vực diệt chủng.
+ Hơn 6 triệu người Đông Nam Á bị giết.
+ Hơn 64.000 lính Mỹ và quân Đồng minh đã thiệt mạng
+ Hơn 1.600 lính Mỹ và 300.000 bộ đội Việt Nam hiện vẫn mất tích
+ Hàng trăm ngàn các căn bệnh liên quan đến di chứng và hội chứng chiến tranh khác vẫn tiếp tục được tạo ra.
+ 13.000 trong số 21.000 ngôi làng Việt Nam, tương đương 62%, bị phá huỷ hoàn toàn hoặc tàn phá.
+ Gần 950 nhà thờ và chùa chiền bị phá hủy do ném bom.
+ 350 bệnh viện và 1.500 cơ sở y tế bị phá hủy do ném bom.
+ Gần 3.000 trường trung học và đại học bị phá hủy do ném bom.
+ Hơn 15.000 cây cầu bị phá hủy do ném bom.
+ 10 triệu mét khối đê điều bị phá hủy bằng cách ném bom.
+ Hoa Kỳ mất hơn 3.700 máy bay cánh cố định.
+ 36.125 máy bay trực thăng Mỹ được huy động trong chiến tranh; hơn 10.000 trong số đó bị bắn rơi hoặc hư hỏng nặng.
+ 26 triệu hố bom được tạo ra, phần lớn từ B-52, một miệng hố bom B-52 có thể sâu 20 feet, và ngang 40 feet.
+ 39 triệu mẫu đất ở Đông Dương (hoặc 91% diện tích đất của Nam Việt Nam) bị ô nhiễm bởi mảnh bom và pháo, tương đương với 244.000 mẫu Anh, hoặc diện tích của toàn bộ New England trừ Connecticut.
+ 21 triệu gallon (80 triệu lít) hóa chất cực độc (thuốc diệt cỏ) đã được sử dụng trong 20.000 phi vụ phun hóa chất từ năm 1961 đến 1970, đây là việc sử dụng chiến tranh hóa học tàn bạo nhất trong lịch sử loài người, với khoảng 4,8 triệu người Việt sống ở gần 3.200 ngôi làng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các hóa chất.
+ 24%, hoặc 16.100 dặm vuông của miền Nam Việt Nam đã bị phun chất độc hoá học, một diện tích lớn hơn các bang Connecticut, Vermont, và Rhode Island cộng lại, giết chết rừng nhiệt đới, cây lương thực, rừng nội địa.
+ Hơn 500.000 người Việt Nam đã chết vì các tình trạng mãn tính liên quan đến hóa chất, với ước tính 650.000 người vẫn đang phải chịu tình trạng nhiễm độc; 500.000 trẻ em đã được sinh ra với dị tật bẩm sinh do chất độc da cam, bao gồm cả thế hệ thứ ba.
+ Gần 375.000 tấn napalm đã được thả xuống, thiêu cháy các ngôi làng.
+ Máy cày khổng lồ Rome (sản xuất tại Rome, Georgia), máy kéo bánh xích D7E động cơ 20 tấn, được trang bị một lưỡi kiếm gần 11 tấn rộng 11 feet được bảo vệ bởi 14 tấn tấm giáp, đã cạo sạch từ 700.000 đến 750.000 mẫu Anh (1.200 dặm vuông), diện tích tương đương với Rhode Island, để lại những vùng đất hoang tàn.
+ Có tới 36.000.000 tấn bom đạn được sử dụng bởi không quân, hải quân, pháo binh và hỏa lực chiến đấu mặt đất.
+ Trung bình mỗi ngày pháo binh Mỹ tiêu tốn 10.000 viên đạn, trị giá 1 triệu USD; 150.000-300.000 tấn vật liệu chưa nổ (UXO) vẫn nằm rải rác khắp Đông Nam Á, UXO tiếp tục giết chết hơn 40.000 người ở Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh năm 1975, gần 70.000 người bị thương; hơn 20.000 người Lào đã thiệt mạng hoặc bị thương kể từ khi kết thúc chiến tranh
+ 13,7 tỷ gallon nhiên liệu đã được sử dụng bởi các lực lượng Hoa Kỳ trong chiến tranh.
+ Nếu có không gian cho tất cả 6.000.000 cái tên của những người Đông Nam Á bị giết trên một bức tường như ở Bức tường Việt Nam tại Washington, nó sẽ phải dài hơn 9 dặm, tương đương gần 100 lần chiều dài 493 foot hiện nay.

Tôi không thể tưởng niệm những người lính Mỹ đã hy sinh của chúng ta mà không nhớ đến những cái chết và sự phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự mà chúng tôi đã gây ra trong cuộc xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp ở Việt Nam, Lào và Campuchia. Đã 47 năm kể từ khi tôi thực hiện nhiệm vụ tại Việt Nam. Nhiệm vụ đó khiến tôi trở thành một nhân chứng về hậu quả của các vụ đánh bom vào các ngôi làng không được bảo vệ, nơi hầu như tất cả cư dân bị tàn sát, đại đa số là trẻ nhỏ. Trong trải nghiệm đó, tôi cảm thấy mình là đồng lõa trong một tội ác man rợ chống lại loài người. Trải nghiệm này khiến tôi hiểu sâu sắc rằng tôi không đáng giá hơn bất kỳ con người nào khác, cũng như họ không đáng giá hơn tôi.

Gần đây tôi đã ở Việt Nam hơn ba tuần, chuyến đi đầu tiên của tôi trở về kể từ khi vô tình được gửi đến đó vào năm 1969. Tôi đã bị ám ảnh bởi vô số trẻ em bị dị tật bẩm sinh, do hóa chất Hoa Kỳ phun ra cách đây 50 năm. Tôi đã trải qua cơn giận dữ sâu sắc khi biết rằng Hoa Kỳ chịu trách nhiệm trực tiếp cho thiệt hại di truyền này, hiện vẫn truyền từ thế hệ này sang các thế hệ tiếp theo. Tôi xấu hổ vì chính phủ Hoa Kỳ chưa bao giờ nhận trách nhiệm hoặc trả tiền bồi thường. Tôi thấy mình cần phải xin lỗi những người dân vì tội ác của đất nước tôi.

Khi chúng ta chỉ tưởng niệm những người lính Mỹ mà phớt lờ các nạn nhân xâm lược của mình, chúng ta coi đó là sự tưởng niệm chiến tranh. Tôi không thể làm được điều đó. Chiến tranh là điên rồ, và đất nước chúng ta tiếp tục duy trì sự điên rồ của mình đối với những người khác, liên tục gây ra chiến tranh kể từ ít nhất năm 1991 trở lại đây. Chúng ta sẽ thất bại với tư cách là công dân nếu chúng ta im lặng thay vì gọi rõ tên các cuộc chiến tranh của mình về những gì thực sự nó đã gây ra - tội ác xâm lược và sự lừa dối, vi phạm luật pháp quốc tế và luật pháp Hoa Kỳ, chỉ để đảm bảo quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên địa chiến lược, điều được coi là cần thiết để tiếp tục lối sống Mỹ vô độ (AWOL) của chúng ta.

Ngày tưởng niệm đối với tôi đòi hỏi tôi phải nhớ TẤT CẢ những cái chết và sự tàn phá mà các cuộc chiến của chúng ta đã gây ra, và nó sẽ nhắc nhở tất cả chúng ta về sự cần thiết phải chấm dứt sự điên rồ. Nếu muốn kết thúc chiến tranh, chúng ta phải bắt đầu trực tiếp giải quyết nền kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa không kiểm soát của nước Mỹ, những người không biết giới hạn lòng tham, chỉ vì lợi nhuận cho một số ít người bằng cái giá đau khổ mất mát của nhiều người, bao gồm cả binh lính của chúng ta.
Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=514132065854404&id=100017728446798
CUỘC ĐẤU “VOI” – “LỪA” VÀ THỰC CHẤT CỦA DÂN CHỦ KIỂU MỸ
(hay “Đằng sau chiêu trò luận tội các tổng thống Mỹ”)

Chiều muộn ngày 18-12-2019, với 230 phiếu thuận/197 phiếu chống, Hạ nghị viện Mỹ đã thông qua bản luận tội đối với đương kim tổng thống Mỹ Donald Trump gồm các cáo buộc nghiêm trọng như lạm dụng quyền lực của tổng thống để gây nguy hiểm cho hiến pháp, cản trở hoạt động của Quốc hội, xâm hại an ninh quốc gia và làm suy yếu sự công bằng của cuộc bầu cử năm 2020. Trước đó 2 năm, một bản luận tội khác đối với ông Donald Trump đã được đưa ra biểu quyết tại Hạ nghị viện Mỹ hồi tháng 12-2017 nhưng thất bại khi chỉ nhận được 58 phiếu thuận/364 phiếu chống.

Theo quy định của pháp luật nước Mỹ, các cáo buộc của Hạ nghị viện Mỹ chỉ có ý nghĩa như một bản cáo trạng của cơ quan công tố đối với can phạm. Còn việc phán quyết tổng thống có tội hay không có tội thuộc thẩm quyền của Thượng nghị viện Mỹ, đóng vai trò như một bồi thẩm đoàn, đồng thời cũng là nơi quyết định xem có phế truất tổng thống hay không khi có kết luận rằng ông ta có tội. Còn Chánh án Tòa án tối cao Mỹ sẽ đóng vai trò “chủ tọa phiên tòa” và sẽ là người tuyên bố phán quyết cuối cùng. Sau đó, Tòa án Hiến pháp Mỹ sẽ thẩm định lại vụ việc và sẽ ra phán quyết về tính hợp pháp của toàn bộ tiến trình xử lý vụ việc của các tổ chức và cá nhân đã “tham gia tố tụng”.

Ngay sau đó, trên các trang BBC tiếng Việt, VOA tiếng Việt, RFA tiếng Việt, Việt Tân, Quê Mẹ .v.v… và nhiều trang tin/báo chống cộng của một số người Việt phản động ở hải ngoại, những người được gọi là “các nhà hoạt động dân chủ” đã vội vã “nâng bi” cho cái gọi là nền dân chủ Mỹ. Họ cho rằng ở một đất nước mà ngay cả tổng thống, người có quyền lực cao nhất đất nước, không những thế còn là người có quyền lực nhất thế giới cũng bị đem ra luận tội thì đó là điều minh chứng cho một xã hội dân chủ tự do nhất hạng tót vời.

Nhưng sự thật có phải đúng như họ nói không ?

1- Nhìn lại những lần buộc tội tổng thống Mỹ.

Nước Mỹ từ khi lập quốc (ngày 4-7-1774) đến nay đã trải qua 58 nhiệm kỳ tổng thống với 45 đời tổng thống Mỹ. Trong đó có 1 người giữ cương vị tổng thống 4 nhiệm kỳ liên tiếp (Franklin Delano Roosevelt, từ 1933 đến 1945); 15 người giữ cương vị tổng thống 2 nhiệm kỳ liên tiếp; 7 tổng thống Mỹ từ trần khi đang tại nhiệm, trong đó có 4 người chết do bị ám sát (gồm Abraham Lincoln, James Abram Garfield, William McKinley Jr. và John Fitzgerald Kennedy). Trong số 45 đời tổng thống Mỹ có 19 người là thành viên của đảng Cộng hòa, 16 người là thành viên của đảng Dân chủ, 4 người là thành viên của đảng Dân chủ cộng hòa, 2 người là thành viên của đảng Whig (một tổ chức chính trị dân tộc cực đoan, đã giải thể), 1 người là thành viên của đảng Liên bang (đã giải thể) và duy nhất 1 tổng thống không đảng phái (George Washington). Đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ là 2 tổ chức chính trị thay nhau chiếm đa số tại 2 viện của quốc hội Mỹ cũng như có thành viên giữ chức vụ tổng thống Mỹ từ năm 1829 đến nay.

Donal Trump không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên bị quốc hội Mỹ đưa ra các cáo buộc luận tội và càng không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên dính líu tới các vụ bê bối chính trị có nguy cơ bị đưa ra luận tội.

Lịch sử các tổng thống Mỹ cho thấy đã có tổng thống thứ 17 Andrew Johnson, người của đảng Dân chủ (trước năm 1808 là đảng Liên minh dân tộc), thay thế cố tổng thống Abraham Lincoln (bị ám sát) đã bị luận tội vì lạm dụng quyền phủ quyết của tổng thống để ngăn cản việc hủy bỏ chế độ nô lệ ở các bang miền Nam nước Mỹ sau nội chiến. Không những thế, Andrew Johnson còn vi phạm Đạo luật nhiệm kỳ, trong đó có quy định hạn chế quyền hạn của tổng thống trong việc sa thải các thành viên nội các nếu không được Thượng nghị viện chấp thuận. Bất chấp đạo luật này, Andrew Johnson đã tự tiện sa thảo ông Edwin Stanton, Bộ trưởng Chiến tranh và là đối thủ chính trị của ông ta. Bản luận tội tổng thống Andrew Johnson gồm 11 cáo buộc đã được Hạ nghi viện Mỹ khi đó do đảng Cộng hòa nắm đa số thông qua và trình lên Thượng nghị viện. Tuy nhiên, vì thiếu đúng 1 phiếu để đạt được đa số 2/3 số thượng nghị sĩ Mỹ bỏ phiếu bãi nhiệm, tổng thống Andrew Johnson đã thoát “án phế truất” và tiếp tục tại vị đến hết nhiệm kỳ (1865-1869).

Vào những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ 1969-1973, tổng thống Mỹ Richard Nixon đã dính vào một vụ bê bối chính trị đình đám nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ngày 17-6-1972, các nhân viên bảo vệ của trụ sở của Ủy ban Toàn quốc đảng Dân chủ Mỹ tại khu phức hợp văn phòng-khách sạn Watergate đã tóm được 5 kẻ tình nghi đội lốt thợ sửa ống nước đang sử dụng các máy ghi âm vô tuyến điện để thu nhận tín hiệu của các máy nghe trộm đã được cài đặt tại đây. Kết quả thẩm vấn và điều tra của FBI tới đầu năm 1973 đã làm lộ mặt các nhân vật chủ mưu vụ nghe trộm nổi tiếng này gồm có Howard Hunt, cố vấn tình báo của Nhà Trắng, kẻ vạch kế hoạch thu thập thông tin từ trụ sở đảng Dân chủ; cựu Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell, khi đó đang giữ chức Giám đốc Ủy ban vận động tái cử của Tổng thống; Chánh văn phòng Nhà Trắng Halderman; phụ tá đặc biệt của tổng thống John Ehrlichman; trợ lý tổng thống John Dean; thư ký Ủy ban vận động tái cử của Tổng thống Gordon Liddy; và đương nhiên là cả Tổng thống đương nhiệm Richard Nixon.

Nhưng vì vụ việc vẫn chưa thể làm rõ ngay lập tức nên bằng các thủ đoạn vận động cả chính diện lẫn lừa bịp như ký kết hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn I với Liên Xô (SALT-I), thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, hứa hẹn ký Hiệp định Paris vào tháng 10-1972 để đem lại hòa bình ở Việt Nam (sau khi tái cử, Nixon lật lọng và đem B-52 trút bom xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên…) .v.v… Richard Nixon vẫn tái cử nhiệm kỳ thứ 2 (1973-1977).

Tuy nhiên, các kết quả điều tra tiếp theo của cả FBI lẫn các ủy ban điều tra của Hạ nghị viện và Thượng nghị viện Mỹ đã phơi bày âm mưu đánh cắp thông tin từ đối thủ chính trị (đảng Dân chủ) của Nixon và các cộng sự của ông ta trong đảng Cộng hòa. Mặc dù trong các phiên tòa hình sự diễn ra trong nửa đầu năm 1973, Richard Nixon đã lần lượt “thí” 5 “thợ sửa ống nước” của ông ta, “thí” cả Chánh văn phòng Nhà trắng, “thí” cả phụ tá đặc biệt của tổng thống lẫn trợ lý tổng thống, “thí” cả giám đốc lẫn thư ký Ủy ban vận động tái cử nhưng ông ta vẫn không thể ngăn cản được một cuộc điều tra quy mô nhằm vào chính ông ta do Ủy ban điều tra Thượng nghị viện Mỹ (khi đó do đảng Dân chủ nắm đa số) tiến hành.

Ngày 16-7-1973, Alexander Butterfield, cựu Chánh Văn phòng Nhà Trắng đã tiết lộ về một cuốn băng ghi âm cuộc nói chuyện bí mật trong phòng riêng của Tổng thống. Ngày 23-7-1973, Ủy ban điều tra của Thượng viện Hoa Kỳ đã yêu cầu Nhà Trắng phải mang các cuộn băng ghi âm trên tới tòa. Richard Nixon đã từ chối và nói rằng các cuốn băng đã bị hỏng. Trước sức ép của chính giới và công luận Mỹ ngày 8-12-1973, Nixon buộc phải cho công bố những cuốn băng bí mật. Nhưng chỉ có 7 băng trong số 9 cuốn được gửi đến theo yêu cầu của thẩm phán Sirica. Nhà Trắng tuyên bố rằng không hề có 9 cuốn băng như lời của Sirica. Khi Ủy ban điều tra kiểm tra 7 cuốn băng được trình lên tòa thì có một băng bị vấp và ngắt quãng nhiều lần. Sự ngắt quãng đó được các chuyên viên âm thanh kết luận rằng đó không phải là một sự ngẫu nhiên. Sự việc gian dối của tổng thống thứ 37 của Mỹ chỉ được làm sáng tỏ hoàn toàn khi trợ lý tổng thống John Dean, bất chấp việc bị sa thải và đe dọa đã ra làm chứng trước tòa, tiết lộ những bằng chứng về sự dính líu trực tiếp của Nhà Trắng trong vụ bê bối, Dean cũng chứng minh việc Nixon biết rõ mọi việc và cố tình cản trở  việc điều tra.

Ngày 20-5-1974, thẩm phán Sirica lại yêu cầu Nixon phải đưa ra những cuốn băng còn lại. Ngày 24-7-1974 Tòa án tối cao Mỹ đã nhất trí với yêu cầu buộc Nixon phải bàn giao toàn bộ những bản sao của các cuốn băng. Đến lúc này, Nixon vẫn cố tình cản trở cuộc điều tra. Ngày 5-8-1974, ông ta đã cung cấp bản sao của 2 cuốn băng còn lại  nhưng nó đã bị xóa sạch những gì có dính líu tới ông ta. Tuy nhiên, các nhà điều tra của Ủy ban Tư pháp Hạ nghị viện Mỹ sử dụng công nghệ “xử lý từ dư” trên các cuốn băng đã khôi phục lại “lệnh miệng” của Richard Nixon yêu cầu cả FBI lẫn CIA phải dừng cuộc điều tra và công bố các thông tin đó trên tờ Washington Post. Trước những “bằng chứng cấm cãi” và bản dự thảo luận tội dày trên 300 trang do Hạ nghị viện Mỹ thông qua ngày 27-7-1974 và chuẩn bị đệ trình Thượng nghị viện Mỹ xem xét; ngày 9-8-1974, Richard Nixon đã phải từ chức để tránh bị đem ra luận tội và phế truất, biến nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thứ 47 thành một trong những nhiệm kỳ dang dở và tồi tệ bậc nhất lịch sử chính trị Mỹ khi ông ta là tổng thống Mỹ duy nhất phải từ chức kể từ ngày nước Mỹ lập quốc tới nay.

Richard Nixon qua đời ngày 22-4-1994. Tại buổi tang lễ của ông ta, tổng thống Mỹ khi đó là William Clinton phát biểu: “Chúng ta hãy nhất trí với nhau rằng đây là ngày mà chúng ta nên ngừng phán xét Richard Nixon”. Trớ trêu thay, 4 năm sau, chính tổng thống Bill Clinton lại trở thành đối tượng điều tra trong nhiệm kỳ thứ hai của mình và có nguy cơ bị luận tội. Tuy nhiên, vụ điều tra mang động cơ chính trị này lại được khoác một bộ áo cánh rất mốt, rất hấp dẫn công chúng khi đó và cả bây giờ. Đó là một vụ “tình dục công sở”.

Bắt nguồn từ một số vụ giao dịch bất động sản gian lận bị báo chí phát hiện và đăng tải trong tháng 1-1998, Bill Clinton đã bị Công tố viên đặc biệt của Bộ Tư pháp Mỹ Kenneth Starr mở rộng điều tra và từ đây, mối “quan hệ đặc biệt” của ông ta với cô thực tập sinh trẻ trung tại Nhà Trắng Monica Lewinsky bị phanh phui. Bất chấp những lời phủ nhận của đương kim tổng thống Mỹ, cô thực tập sinh trẻ tuổi đã “khai tuốt tuồn tuột” với các nhân viên điều tra của Bộ Tư pháp Mỹ rất rành mạch và “rõ nét tới từng chi tiết”. Ngày 9-9-1998, một dự thảo bản luận tội tổng thống Mỹ dày hơn 400 trang đã được trình lên Ủy ban điều tra Hạ nghị viện Mỹ. Tháng 12-1998, bản luận tội đối với Bill Clinton được Hạ nghị viện Mỹ bỏ phiếu thông qua và trình lên Thượng nghị viện Mỹ với hai cáo buộc: Khai báo gian dối và cản trở công việc của quốc hội.

Khác với Richard Nixon, Bill Clinton đã nhất quyết không từ chức. Thậm chí, khi kết thúc nhiệm kỳ thứ hai năm 2001, qua một cuộc điều tra dư luận xã hội của Viện Galup, ông ta vẫn thu được sự ủng hộ của 65% dân chúng Mỹ, cao nhất trong số các tổng thống Mỹ ở nửa cuối thế kỷ XX. Thậm chí, tờ Wall Street Journal (Nhật báo Phố “Bức tường”) trong bảng xếp hạng năm 2000 còn đánh giá Bill Clinton vào loại tổng thống “khá” của Mỹ, đứng thứ 18 trong số 43 tổng thống Mỹ (tính đến năm 2000). Có lẽ vì uy tín lớn của Bill Clinton đối với dân chúng Mỹ cũng như đối với quốc tế; đồng thời cũng nhận thấy những lý do cáo buộc khá “vớ vẩn” của “bên nguyên” nên Thượng nghị viện Mỹ trong kỳ họp tháng 2-1999 đã quyết định bác bản luận tội của Hạ nghị viện và “tha bổng” cho ông ta.

2- Vụ luận tội Donald Trupomp và hai hệ thống chính trị công khai - bí mật của nước Mỹ.

Và bây giờ, vụ điều tra tiến tới luận tội vị tổng thống thứ 45 của nước Mỹ đang diễn tiến tới cao trào và có vẻ như chưa đến hồi kết, thu hút không ít sự quan tâm của công chúng và cũng làm cho báo giới tốn không ít giấy mực. Lý do luận tội đối với Donald Trump tương tự như lý do mà Richard Nixon bị luận tội. Đó là “chơi bẩn” với đối thủ chính trị.

Tuy nhiên, nếu theo như các cáo buộc của phe dân chủ trong Hạ nghị viện Mỹ thì Donald Trump có vẻ “cao tay” hơn Richard Nixon. Ông ta không cần dùng đến các “thợ sửa ống dẫn nước”, cũng không cần dùng đến các phương tiện nghe trộm tinh vi mà nền công nghệ Mỹ đang là “đỉnh cao của thế giới”, cũng không cần phải tốn nhiều công sức vào việc “trinh sát” chủ trương đường lối của đối thủ chính trị… Ông ta chỉ cần đưa đối thủ chính trị ra tòa là xong. Nếu cha con ông Joe Biden bị đưa ra tòa dù chỉ vì tội gian lận thu nhập, kinh doanh trái phép, trốn thuế thì cũng thân bại danh liệt, còn tranh cử với ai được nữa ? Và để đạt được điều này, phe dân chủ tại Hạ nghị viện Mỹ đã cáo buộc Donald Trump vừa vận động tân tổng thống Ukraina Volodimir Zelensky điều tra hình sự con trai ông Joe Biden đang làm ăn tại nước này; đồng thời “găm” khoản viện trợ 400 triệu Dollar Mỹ làm con bài mặc cả với Ukraina và vừa tiếp tục "thông đồng với người Nga"..

Thực ra thì ngón võ “thông đồng với người Nga” đã được phe Dân chủ ở Hạ nghị viện Mỹ sử dụng ngay từ khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ thứ 45 đang diễn ra quyết liệt cũng như ngay cả sau khi Donald Trump đắc cử. Các chiến dịch tấn công liên tục của phe Dân chủ ở nước Mỹ, từ các cuộc biểu tình phản đối Donald Trump đắc cử, đến các cáo buộc gian lận kiểm phiếu, đến các cáo buộc liên kết với người Nga đẻ người Nga dùng kỹ thuật Internet can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ .v.v… đã làm cho nước Mỹ đứng bên bờ vực một cuộc “nội chiến chính trị” nghiêm trọng. Nhiều người cho rằng kể từ sau Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), chưa bao giờ, nước Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng như hiện nay.

Nếu chỉ nhìn về hình thức thì có vẻ như các thế lực chính trị đầu sỏ của nước Mỹ đang muốn ăn sống nuốt tươi nhau, đang quyết sống mái với nhau trong cuộc vận động tranh cử cho nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thứ 59. Nhưng nếu nhìn về bản chất của chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, người ta có thể nhận thấy được động cơ, mục đích thực sự của cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt này. Thực chất, đó đơn giản là sự “tranh ăn” giữa những “con chó sói”. Hay nói cách khác, đó làm mâu thuẫn nội bộ giữa các tập đoàn tư bản Mỹ có quyền lợi giống nhau nhưng không phải là quyền lợi chung.

Trong cương lĩnh tranh cử của mình, Donald Trump đã vạch ra những nguy hiểm mà nước Mỹ đang và sẽ phải đối mặt. Nếu không đặt mình vào địa vị của một công dân Mỹ hay cao hơn là vào một nhà tư bản tài phiệt hoặc công nghiệp ở phố Wall, người ta sẽ không hiểu được Donald Trump nghĩ gì và muốn gì. Ở nước Mỹ có một điều hết sức rõ ràng là chủ nghĩa tư bản Mỹ từ khi khai quốc tới nay luôn là sự cạnh tranh giữa hai thế lực tư bản lớn nhất nước Mỹ và cũng lớn nhất thế giới cả về quy mô kinh tế lẫn quan điểm, lập trường chính trị cũng như chủ trương chính sách.

Khác với chủ nghĩa tư bản Hà Lan, Anh, Pháp, Đức .v.v… Chủ nghĩa tư bản Mỹ không phải trưởng thành trong môi trường xã hội phong kiến nhưng về mặt nguồn gốc xã hội, nó còn mang những gen di truyền tồi tệ hơn cả môi trường xã hội phong kiến. Đó là chế độ nô lệ. Nước Mỹ đã có những sự tăng trưởng vượt bậc của nó trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX nhờ sự bóc lột sức lạo động của hàng trăm triệu nô lệ được “nhập cư” qua con đường mua bán người từ Châu Phi sang Châu Mỹ.

Như một lẽ tự nhiên, công nghệ mới của các nhà khoa học, các nhà kỹ nghệ sẽ trở nên vô dụng nếu như không có sức lao động của con người. Vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi mô hình xã hội nô lệ hầu như đã bị xóa bỏ ở Châu Âu thì ở nước Mỹ, đặc biệt là các bang miền Nam nước Mỹ, mô hình xã hội chủ nô-nô lệ dựa trên phương thức sản xuất nông nghiệp đã đem lại bạc tỷ cho những chủ nô. Trong khi đó, mô hình xã hội dân chủ mới mà thực chất là một hình thức nô lệ kiểu mới trên cơ sở phương thức sản xuất công nghiệp đã tạo nên sự đối lập dẫn đến cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865). Cuộc nội chiến ấy đã không dẫn đến một thay đổi có tính cách mạng nào trong xã hội Mỹ khi tập đoàn tư bản công nghiệp miền Bắc giành ưu thế trước các tập đoàn điền chủ phong kiến miền Nam đã chuyển đối thành tư bản nông nghiệp. Chỉ duy nhất có một điều người Mỹ làm được sau Châu Âu hàng nghìn năm. Đó là việc xóa bỏ chế độ nô lệ đối với hàng trăm triệu lao động nhập cư da màu ở nước Mỹ. Nhưng đó lại cũng không phải là một sự giải phóng thật sự và đến cùng.

Bản chất sâu xa nhất của cái gọi là phong trào giải phóng nô lệ ở nước Mỹ trước, trong và sau Nội chiến Mỹ không phải là sự giải phóng cho con người như nhiều nhà sử học tư sản vẫn tô vẽ và nhiều người ngây thơ vẫn tin tưởng như vậy. Thực chất, đó là việc các tập đoàn tư bản công nghiệp ở miền Bắc nước Mỹ tước đoạt sức lao động của các nô lệ ở miền Nam nước Mỹ khỏi tay giới điền chủ nông nghiệp để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa được khởi xướng từ miền Bắc nước Mỹ. Trong cái gọi là “công cuộc giải phóng nô lệ” này, khi những người nô lệ da màu thoát khỏi sự thống trị của các điền chủ Mỹ thì họ lại rơi vào một hoàn cảnh nô lệ khác. Đó là làm nô lệ cho các tập đoàn tư bản công nghiệp Mỹ. Về bản chất sức lao động xã hội, thân phận của họ vẫn không thay đổi, chỉ có các “ông chủ” của họ là thay đổi mà thôi.

Và theo sự phát triển tự nhiên của tất cả các xã hội tư bản, chủ nghĩa tư bản Mỹ cũng bị phân hóa thành hai cộng đồng. Cộng đồng tư bản thứ nhất và cũng có lịch sử lâu đời nhất là cộng đồng tư bản tài chính-ngân hàng mà trong đó có tới hơn 2/3 là người Do Thái. Tư bản tài chính-ngân hàng chính là cha đẻ của tất cả các thể loại tư bản sau này. Cộng đồng tư bản thứ hai là cộng đồng tư bản công nghệ-kỹ thuật (gọi tắt là tư bản kỹ nghệ) hình thành muộn hơn, bao gồm những kỹ sư kiêm doanh nhân.

So với giới tư bản tài chính-ngân hàng vốn thoát thai từ giới địa chủ mạt kỳ hay giới nhân viên quản gia cho tầng lớp địa chủ ấy thì giới tư bản kỹ nghệ có trình độ thực tiễn cao hơn, có cách làm việc khoa học hơn, hàng động luôn cương quyết hơn và có chí tiến thủ hơn hẳn đối thủ. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giới tư bản kỹ nghệ đem lại nhiều công ăn việc làm hơn hẳn so với giới tư bản tài chính-ngân hàng à cũng khai mở tri thức nhiều hơn cho người lao động. Và cũng vì thế mà giới tư bản kỹ nghệ bị lên án là “kẻ bóc lột tàn bạo” hơn trong khi trên thực tế, chính giới tư bản tài chính-ngân hàng mới là những kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” hơn hết thảy.

Mâu thuẫn giữa hai thế lực tư bản này đã hình thành và kéo dài trong suốt hơn 400 năm lịch sử của nước Mỹ. Và bây giới, sự kiện luận tội Donald Trump chỉ là mọt sự tiếp diễn thường thấy trong lịch sử cạnh tranh giữa hai thế lực tư bản lớn nhất ấy của nước Mỹ mà thôi. Và lịch sử chủ nghĩa tư bản Mỹ luôn thể hiện các chu kỳ tài cân bằng quyền lực của các tập đoàn tư bản lớn nhất của nước Mỹ.

Đó chính là bản chất của nền dân chủ Mỹ, một nền dân chủ chỉ dành cho những ông chủ chứ không dành cho toàn bộ dân chúng Mỹ và lại càng không phải là dành cho những người lao động, những nô lệ mới của các ông chủ mới.

3- Nước Mỹ chỉ có dân chủ thật sự trong nội bộ giới siêu tư bản cầm quyền.

Vào giữa thế kỷ thứ XX của nhân loại, một thế lực tư bản thứ ba ra đời ở Mỹ. Đó là thế lực tư bản kỹ nghệ. Hay như bây giờ người ta vẫn thường nói là các tập đoàn tư bản công nghệ cao, sinh sông và phát triển bằng nền kinh tế tri thức. Dựa trên thành quả các phát minh lớn của nhân loại như công nghệ bán dẫn, công nghện điện tử-vi điện tử, công nghệ thông tin-tin học, công nghệ nano, công nghệ truyền thông .v.v… các tập đoàn tư bản công nghệ cao đã hình thành và nhanh chóng chiếm lĩnh phần “trận địa” của mình ở phố Wall.

Tuy nhiên, các tập đoàn tư bản công nghệ cao này không bao giờ trở thành một thế lực chính trị độc lập và khó có thể thành lập được một đảng chính trị ở Mỹ có vị thế và vai trò độc lập với hai đảng “Con Voi” và “Con Lừa” như nhiều người vẫn lầm tưởng và hy vọng. Trước hết, đó là vì các tập đoàn tư bản công nghệ cao vẫn phải sử dụng vốn đầu tư từ cả hai tập đoàn tư bản “lão làng” kia, đặc biệt là từ các tập đoàn tư bản tài chính-ngân hàng. Hai là sản phẩm của họ được các hai tập đoàn tư bản “Con Voi” và “Con Lừa” tiêu thụ. Nói cách khác, thị trường sản phẩm của họ chịu sự chi phối của thị trường vốn, thị trường sản phẩm công nghiệp và tiêu dùng .v.v… Chính vì sự phụ thuộc ấy mà xét đến cùng, giới trí thức tinh hoa của nước Mỹ cho dù họ có trong tay khối tài sản hàng chục tỷ Dollar thì họ cũng vẫn chỉ là những kẻ làm thuê cho các ông chủ tư bản mà thôi.

Điều đó làm phát sinh một dạng thức tư bản mới: “Tư bản xã hội”. Khác với mô hình chủ nghĩa tư bản trung kỳ ở Anh, Pháp, Đức… hay mô hình tư bản sơ kỳ ở Hà Lan, dòng tư bản ở Mỹ được khuyến khích lưu thông trong xã hội với vận tốc vòng quay càng nhanh càng tốt thay vì đọng tại, tích tụ lại trong các “kho bạc”. Khi đó, quyền sở hữu khối tư bản ấy thuộc về những kẻ điều hành vòng quay của chúng và tăng tốc hay giảm tốc những vòng quay đó. Trong cái guồng máy tư bản mới kiểu Mỹ ấy, từ tống thống, thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ, các thành viên chính phủ Mỹ, chánh án, thẩm phán tòa án liên bang, thống đốc bang, bộ trưởng.v.v… cho đến những người lao động bình thường đều là những kẻ làm thuê cho các ông chủ tư sản cá mập nắm giữ các “cổ phần sư tử” ở thị trường chứng khoán phố Wall và các thị trường chứng khoán chủ chốt khác trên thế giới.

Sự vận hành của chủ nghĩa tư bản Mỹ được ẩn chứa trong Hiến pháp Mỹ và hàng trăm nghìn đạo luật lớn nhỏ không cho phép một tập đoàn tư bản nào đó nắm quyền hành tuyệt đối ở nước Mỹ. Cơ chế tam quyền phân lập của nền chính trị Mỹ cũng hình thành từ các thỏa thuận phân chia quyền lực giữa các tập đoàn tư bản tài phiệt hàng đầu của nước Mỹ. Một khi một tập đoàn tư bản nào đó có xu hướng chiếm ưu thế tới mức cận độc quyền và khống chế các tập đoàn tư bản khác thì cơ chế chống độc quyền chính trị được kích hoạt, Những “ông chủ trong bóng tối” nắm trong tay các tập đoàn tư bản khổng lồ của Mỹ và xuyên quốc gia sẽ bằng mọi cách, sử dụng mọi biện pháp, kể cả bằng các biện pháp tàn bạo nhất cũng như bẩn thỉu nhất như ám sát chính trị, truy tố chính trị, luận tội chính trị, dàn dụng các vụ scandal.v.v… miễn sao lập lại thế cân bằng quyền lực trong giới tư bản đầu sở ở Mỹ, qua đó, duy trì mô hình xã hội tư bản Mỹ, đồng thời, duy trì quyền lực của nước Mỹ.

Vì thế, việc Hạ nghị viện Mỹ thông qua dự thảo bản luận tội tổng thống thứ 45 của nước Mỹ Donald Trump không có gì mới lạ. Đó chẳng qua chỉ là một trong những “trò chơi chính trị” dựa trên nền dân chủ chỉ giành cho 1% dân số Mỹ đang sở hữu 99% nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của nước Mỹ. 99% dân số Mỹ còn lại và cả thế giới chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng từ những hậu quả mà các “trò chơi chính trị” đó đem lại. Các quốc gia, dân tộc, các doanh nhân, các chính khách.v.v… nếu không có sự, nhận định sớm, đánh giá sớm, chủ động đối phó kịp thời, xoay chuyển khéo léo và ứng biến linh hoạt sẽ khó tránh khỏi thiệt hại của việc “trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết” ở Mỹ nhưng lại có tầm ảnh hưởng toàn cầu này.

Và dù thế nào đi nữa thì bản chất của nền chính trị Mỹ, bản chất của chủ nghĩa tư bản Mỹ vẫn không hề thay đổi. Mỗi một lần cải cách gì đó ở nước Mỹ hay đơn giản là thay đổi một tống thống, một chính phủ, một thượng nghị viện, một hạ nghị viện .v.v… cũng chỉ như một minh tinh màn bạc Hollyood thay một tấm áo này bằng một tấm áo khác để vào một vai diễn khác, thay một cái bình mới cho bắt mắt để lại tiêu thụ món rượu cũ mà thôi.
Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2505981723015524&id=100008111627906

NHỮNG ĐỒNG MINH BÍ MẬT CỦA BỌN DIỆT CHỦNG KH’ MER ĐỎ

1- Lời giới thiệu:

Chế độ diệt chủng Kh’mer Đỏ chỉ tồn tại ở Campuchia gần 4 năm trước khi bị nhân dân Campuchia, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam lật đổ đầu năm 1979. Trong gần 4 năm đó, chế độ diệt chủng này đã tàn sát khoảng 3 triệu dân thường Campuchia cùng nhiều người dân vô tội Việt Nam, Thái Lan, Lào và cả các nước phương Tây.

Nhưng sau khi bị lật đổ và bị đánh đuổi sang vùng biên giới Thái Lan – Campuchia, cái “quái thai” Kh’mer Đỏ ấy vẫn có thể sống sót trong rừng rậm, tiến hành nhiều cuộc đột kích từ bên kia biên giới Thái Lan vào lãnh thổ Campuchia, tiếp tục tàn sát dân lành Campuchia và gây sát thương cho hàng chục vạn quân tình nguyện Việt Nam và hàng vạn chiến sĩ Quân đội nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia.

Tại sao chúng có thể làm được điều đó trong suốt cả một thập kỷ (1979-1989) ?

Tại sao những kẻ can tội ác diệt chủng, tội ác chống lại loài người lại được giữ chiếc ghế thành viên Liên Hợp Quốc từ khi chúng bị lật đổ năm 1979 cho đến tận những năm 1990 ?

Tại sao các thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã nhất trí về một phiên tòa xét xử chế độ tội ác Kh’mer Đỏ và các thành viên chủ chốt của nó ngay sau khi UNTAC (Lực lượng gìn giữ hòa binh Liên Hợp Quốc ở Campuchia) bắt đầu hoạt động mà mãi đến gần đây, một phiên tòa như vậy mới được mở, cho dù còn lâu mới có thể có được hồ sơ tội ác của Kh’mer Đỏ một cách đầy đủ nhất ?

Những ai đã hà hơi, tiếp sức cho Kh’mer Đỏ về vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh, lương thực, thực phẩm, quân y, sự trợ giúp về chiến thuật biệt kích cũng như về thông tin tình báo và cả sự yểm trợ về chính trị để chúng có thể chống lại Quân đội Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia và Quân tình nguyện Việt Nam trong hơn 10 năm ròng rã ?

Tại sao Việt Nam, một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh trong tình trạng suy kiệt phải tiến hành một cuộc chiến bắt buộc để tự bảo vệ mình lại bị coi là kẻ xâm lược trong suốt mấy chục năm trời ? Và tại sao đến gần đây, có kẻ vẫn nhắc lại cái luận điệu bịa đặt nhơ bẩn ấy ?

Cho đến nay, cả thế giới đều biết đứng sau tập đoàn tội phạm chống lại loài người Pol Pot – Yeng Sary là Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu chỉ một mình Trung Quốc “chống lưng” cho Kh’mer Đỏ thì không đủ. Cả thế giới sẽ chống lại Trung Quốc. Vậy thì ngoài Trung Quốc ra, còn những kẻ nào đã “chống lưng” cho Pol Pot ?

Thái Lan dưới thời chính phủ Prem Tinsulanolda ư ? Có đấy nhưng không phải là không giới hạn ! Người Thái nói chung tuy vẫn nuôi tham vọng tranh giành ảnh hưởng ở Lào và Campuchia trong những năm cuối thế kỷ XX nhưng không dại gì để một mình lao vào một cuộc chiến mà không có chuẩn bị từ trước; nhất là đối với một “kẻ cạnh tranh” thiện chiến như Việt Nam. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ư ? Hay Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania ? Hay Cộng hòa Nhân dân Albania ? Cũng không phải ! Những nước xã hội chủ nghĩa này dù thân Trung Quốc, thậm chí là đồng minh chiến lược của Trung Quốc nhưng cũng vẫn nhận thức được bản chất của Kh’mer Đỏ. Và hơn nữa, họ không có quyền lợi trực tiếp cũng như không đủ tiềm lực mọi mặt để dính líu vào vấn đề Campuchia đang rất phức tạp khi đó. Vì vậy, sự ủng hộ của họ đối với Trung Quốc trong vấn đề Campuchia khi đó là có chừng mực và chỉ mang tính hình thức.

Vậy thì những ai ngoài Trung Quốc là đồng minh bí mật của Kh’mer Đỏ ?

Sốt ruột về việc mãi đến tận năm 2000, một Tòa án quốc tế nhằm xét xử những kẻ diệt chủng đầu sỏ trong chế độ Kh’mer Đỏ vẫn chưa được mở, nhà báo kiêm nhà làm phim tài liệu điều tra người Australia John Pilger, người từng được giải thưởng báo chí Pulitzer đã có một loạt bài báo vạch trần việc người Mỹ và người Anh đã giúp Kh’mer Đỏ chống lại Việt Nam như thế nào. Bài báo có nhan đề: “The long secret alliance Uncle Sam and Pol Pot”.

------------------------------------------

2- Lời người dịch:

“Thập niên 1980 là một thập niên quyết liệt cuối cùng của Chiến tranh Lạnh mà Anh và Mỹ đã giở hết những ngón nghề hạ lưu bỉ ổi nhất để chiếm thượng phong, từ liên kết với đại cường Trung Quốc để thúc đẩy phát triển kinh tế cả đôi bên và cô lập Liên Xô, vừa cùng với độc tài, khủng bố trên khắp thế giới đè bẹp những phong trào tiến bộ đòi độc lập tự do trên khắp thế giới, để giữ chặt vùng kiểm soát của mình, vừa đánh lén trả thù, ném đá giấu tay để thỏa mãn thú tính”

Ở nơi mà đã cho đế quốc Mỹ một thất bại hiếm hoi cay đắng, Việt Nam, Mỹ đã vớ được một cơ hội trả thù ngàn vàng khi Việt Nam đem quân vào Campuchia dẹp bỏ chế độ Kh'mer Đỏ, sau khi họ đã nhiều lần tấn công vào đất Việt Nam giết hại hàng ngàn dân thường và tàn phá làng mạc, và thực hiện một chính sách diệt chủng trên đất họ, trong đó có người Việt Nam.

Bài dưới đây là một thí dụ nữa về những hoạt động dơ dáy bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng của hai chiến hữu lâu năm mặt người lòng thú Anh-Mỹ và Trung Quốc thời thập niên 80 ở Campuchia. Họ đã ban bố ‘tự do, dân chủ, nhân quyền’ cho dân nước này bằng cách ủng hộ cái ghế của Polpot ở Liên Hợp Quốc và tài trợ, trang bị vũ khí, huấn luyện, nuôi dưỡng tàn quân Kh'mer Đỏ đóng trên đất Thái trong suốt 10 năm, sau khi những vụ thảm sát diệt chủng của Khmer Đỏ đã được đưa ra ánh sáng”.
-----------------------------------------------
3- “Mỹ – Anh đã giúp chế độ Khmer Đỏ chống Việt Nam như thế nào?”

“17 tháng Tư năm nay (2000) đã là 25 năm từ khi Khmer Đỏ của Polpot tiến vào Phnom Penh. Trong lịch của sự cuồng tín, đó là Năm Số Không: Không gia đình; không tiền tệ, không chợ búa, không tôn giáo, không trường học. Khoảng hai triệu người, tức một phần năm dân số của Campuchia đã chết như một hệ quả tất yếu của ngày hôm đó. Để đánh dấu ngày kỷ niệm này, tội ác của Polpot sẽ được nhắc đến, gần như một hành động mang tính nghi thức cho những người tò mò về những trò chơi chính trị đen tối và không được giải thích.

Đối với những người cầm chịch đầy sức mạnh của phương Tây, những bài học đúng đắn đã không được rút ra, vì không có những mối dây liên hệ nào có thể dẫn tới họ và tới những người đi trước của họ, những người đã từng là đối tác kiểu Faust (nhân vật huyền thoại thời trung cổ đã bán linh hồn cho ác quỉ để đổi lấy kiến thức và sức mạnh) với Polpot. Tuy vậy, sự thật vẫn là sự thật, nếu không có sự đồng lõa của phương Tây, Năm Số Không có thể đã chưa bao giờ xảy ra hay có nguy cơ đe dọa trở lại nếu nó không được nuôi dưỡng lâu dài đến như vậy.

Những tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ để lại rất ít nghi ngờ rằng việc ném bom bí mật và bất hợp pháp lên lãnh thổ nước Campuchia trung lập khi đó bởi Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger. Những trận ném bom B-52 xuống Campuchia trong giai đoạn 1969 và 1973 đã gây ra chết chóc và tàn phá trên bình diện rộng. Chính nó đã tạo điều kiện cho sự hình thành sức mạnh của lực lượng Polpot.

Giám đốc hoạt động của CIA tường trình vào tháng 2-1973 như sau: “Họ đang lợi dụng những thiệt hại gây ra bởi những vụ ném bom B52 như là đề tài chính để tuyên truyền. Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự tuyển mộ thành công nhiều thanh niên vào hàng ngũ Kh’mẻ Đỏ. Người ta cho rằng chiến dịch tuyên truyền đã có hiệu quả với những người tị nạn trong những vùng là mục tiêu của B52.”

Qua việc thả một khối lượng bom tương đương với 5 quả bom nguyên tử ở Hiroshima lên một cộng đồng nông dân, Nixon và Kissinger đã giết chết ước tính khoảng một nửa triệu người. Với họ (chỉ Nixon và Kisinger) Năm Số Không đã bắt đầu như vậy trên thực tế. Việc ném bom bừa bãi là một chất xúc tác cho sự nổi lên của một nhóm bè phái Khmer Đỏ, mà chủ trương căn bản là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mao và nếp sống thời Trung cổ mà trước đó không được sự ủng hộ trong đại chúng.

Sau ba năm rưỡi nắm quyền, Khmer Đỏ bị lật đổ bởi quân đội Việt Nam vào Ngày Lễ Noel năm 1978 (thực ra là ngày 7-1-1979, tương đương với ngày Lễ Noel của người theo đạo Thiên Chúa giáo chính thống). Và trong những tháng năm sau đó, Mỹ cùng với Trung Quốc và những đồng minh của họ, trong đó có chính phủ Magaret Thatcher (Thủ tướng Anh lúc đó), đã chống lưng cho Polpot đang trốn chạy và nương náu trên đất Thái Lan. Ông ta là kẻ thù của kẻ thù của họ: Việt Nam.

Công lao giải phóng Campuchia của Việt Nam đã không được công nhận, vì họ ở bên kia chiến tuyến trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Đối với người Mỹ thì chiến thuật bây giờ của họ đang là ủng hộ Bắc Kinh để chống lại Moskva. Đơn giản là vì Mỹ có một bàn thua cần phải gỡ như gỡ một mối nhục của họ khi phải tháo chạy khỏi Sài Gòn trên những mái nhà.

Trong việc này, Liên Hiệp Quốc đã bị lạm dụng bởi những cường quốc. Mặc dù chính phủ Khmer Đỏ (“Kampuchea Dân chủ”) đã ngừng tồn tại từ tháng Giêng năm 1979, nhưng những đại diện của nó vẫn được phép tiếp tục chiếm giữ cái ghế của Campuchia tại Liên Hợp Quốc. Sự thực là bởi Mỹ, Trung Quốc và Nước Anh đã đòi hỏi như thế. Cùng lúc đó, một lệnh trừng phạt và cấm vận của Hội đồng Bảo an lên Campuchia đã làm nước này tăng thêm sự khốn khổ, mất mát khi đang bị tổn thương nặng nề. Trong khi Kh’mer Đỏ đang lưu vong thì gần như muốn gì được nấy bởi chúng đã bỏ phiếu đồng ý cho việc trừng phạt và cấm vận chính đất nước của chúng và đồng bào của chúng.

Năm 1981, cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Jimmy Carter là Zbigniew Brzezinski đã nói: “Tôi động viên người Trung Hoa hỗ trợ Polpot”. Ông ta còn nói thêm rằng “nước Mỹ đã “nháy mắt công khai” khi Trung Quốc gửi vũ khí cho Khmer Đỏ". Sự thật là Mỹ đã bí mật tài trợ cho Polpot lúc đang lưu vong trên đất Thái Lan từ tháng Giêng năm 1980. Qui mô của sự hỗ trợ này là 85 triệu USD từ năm 1980 đến năm 1986 đã được tiết lộ ra qua một bức thư gửi tới một thành viên của Ủy ban Đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ.

Trên biên giới Thái Lan với Campuchia, CIA và các cơ quan tình báo khác thiết lập một cơ quan gọi là “Nhóm Cứu trợ khẩn cấp cho Campuchia”. Nhóm này có nhiệm vụ là bảo đảm hàng cứu trợ nhân đạo sẽ đến những khu vực của Khmer Đỏ trong những trại tị nạn và bên kia biên giới. Hai người Mỹ làm việc trong nhóm cứu trơ gồm Linda Mason và Roger Brown sau đó đã viết “Chính phủ Mỹ nhấn mạnh rằng Khmer Đỏ phải được nuôi… Mỹ thích việc nuôi cơm cho Khmer Đỏ vì việc đó làm tăng uy tín của hoạt động cứu trợ mà cả thế giới biết đến”. Còn Richard Holbrooke, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó đã viết: “Dưới sức ép của Mỹ, Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) đã trao hơn 12 triệu USD giá trị thực phẩm cho quân đội Thái Lan làm trung gian để chuyển cho Khmer Đỏ; Có 20.000 tới 40.000 kháng chiến quân Polpot đã hưởng lợi nhờ sự trợ giúp đó”,

Bản thân tôi đã chứng kiến điều này. Đi cùng đoàn xe của Liên Hợp Quốc gồm 40 xe tải, Tôi đến một khu căn cứ hoạt động của Khmer Đỏ ở Phnom Chat. Người chỉ huy cơ sở này là Nam Phann, một người khét tiếng, được nhân viên cứu trợ biết đến với cái tên “Đồ tể” và là một “Himmler của Polpot”. Sau khi hàng cứu trợ đã được bốc dỡ hết ngay dưới chân mình, ông ta nói “Cám ơn bạn rất nhiều. Và chúng tôi muốn có thêm nữa”.

Trong tháng 11 năm 1980, một cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa Nhà Trắng và Khmer Đỏ đã được bố trí khi tiến sĩ Ray Cline, một cựu phó giám đốc của CIA đã tiến hành cuộc viếng thăm bí mật đến một trụ sở hoạt động chính của Khmer Đỏ ở Thái Lan. Lúc đó R. Cline là một cố vấn về chính sách đối ngoại trong nhóm chuyển tiếp của Tổng thống Mỹ mới đắc cử là Ronald Reagan.

Đến năm 1981, một số chính phủ trên thế giới đã trở nên khó chịu rõ rệt với “trò chơi đố chữ” của Liên Hợp Quốc khi họ đang tiếp tục công nhận cái chế độ đã chết từ lâu của Polpot. Cần phải làm một cái gì đó để cải thiện tình hình. Năm sau đó (1982), Mỹ và Trung Quốc đã “sáng chế” ra Chính phủ Liên minh Dân chủ Campuchia. Đó thực sự không phải là một Liên minh, cũng không phải tổ chức Dân chủ, hay là một Chính phủ đang hiện hữu trên đất Campuchia. Nó là cái được CIA gọi là “một ảo ảnh siêu đẳng”. Hoàng tử Norodom Sihanouk được chỉ định làm cái đầu của nó; ngoài ra không có gì khác nhiều cả. Hai nhóm “không cộng sản”, nhóm thứ nhất là những người theo Sihanouk được dẫn dắt bởi con trai của Sihanuk là Norodom Ranarith, nhóm thứ hai là Mặt trận Giải phóng Quốc gia của người Kh’mer mà về ngoại giao và quân sự đều bị khống chế bởi phe Kh’mer Đỏ. Một trong số những bạn thân của Polpot, Thaoun Prasith, là người điều hành văn phòng đại diện của cái “ảo ảnh siêu đẳng” ấy tại Liên Hợp Quốc ở New York.

Tại Bangkok, người Mỹ cung cấp cho “liên minh” này những kế hoạch tác chiến, đồng phục, tiền mặt và thông tin tình báo từ vệ tinh. Vũ khí thì được trực tiếp chuyển đến từ Trung Quốc hay từ phương Tây qua trung gian Singapore. Phe không cộng sản đáng xấu hổ nói trên đã trở thành cái cớ cho phép Quốc hội Mỹ, được hối thúc bởi một người cuồng tín về Chiến tranh Lạnh là Stephen Solarz, Chủ tịch Ủy ban Quân lực Hạ nghị viện Mỹ phê duyệt ngân khoản trị giá 24 triệu USD để viện trợ cho cái gọi là “quân kháng chiến Kh’mer”.

Cho đến năm 1989, vai trò của Anh ở Campuchia vẫn còn nằm trong bí mật. Những tường trình đầu tiên xuất hiện trên tờ “Sunday Telegraph” (Điện tín chủ nhật), được viết bởi Simon O’Dwyer Russell, một phóng viên chuyên về ngoại giao và quốc phòng, người từng có những tiếp xúc nghề nghiệp và gia đình gần gũi với SAS (lực lượng đặc nhiệm Anh). Ông ta tiết lộ rằng SAS đang huấn luyện lực lượng do Polpot cầm đầu. Không lâu sau đó, phóng viên Janes của tờ “Defense Weekly” (Tuần báo Quốc phòng) lại cho biết rằng việc huấn luyện của Anh cho những thành viên “không cộng sản” của “liên minh” đó đã được thực hiện “tại những căn cứ bí mật trên đất Thái Lan trong hơn bốn năm vừa qua. Huấn luyện viên được cử đến từ SAS. Tất cả bọn họ đều là những nhân viên quân sự đang tại ngũ, hoặc là cựu chiến binh của cuộc xung đột Falklands, được chỉ huy bởi một đại úy”.

Việc huấn luyện ở Campuchia đã trở thành của riêng người Anh sau khi vụ “Iran-Contra Gate” đầy tai tiếng. Đó là vụ đổi vũ khí lấy con tin bị vỡ lở ngay ở Washington năm 1986. O’Dwyer - Russell dẫn một nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết “Nếu Quốc hội Mỹ biết được chuyện người Mỹ có dính dáng đến chương trình huấn luyện bí mật ở Đông Dương chứ chưa nói đến việc đó là huấn luyện cho lực lượng Polpot thì “cái bong bóng” ấy chắc đã bay ngay lên rồi. Đó là một trong những vụ dàn dựng ăn ý cổ điển giữa Thatcher và Reagan”. Hơn nữa, Margaret Thatcher đã buột miệng, trước sự kinh ngạc của Ngoại trưởng Anh rằng “những người ôn hòa hơn trong lực lượng Khmer Đỏ sẽ phải đóng vai trò nào đó trong chính phủ tương lai”. Năm 1991, tôi có phỏng vấn một thành viên của Đội “R” (tức đội dự bị của SAS), một người đã từng phục vụ ở vùng biên giới Thái Lan – Campuchia và được trả lời: “Chúng tôi đã huấn luyện Khmer Đỏ về rất nhiều những nội dung chiến  thuật và rất nhiều kỹ thuật về đánh mìn. Chúng tôi đã sử dụng những quả mìn có nguồn gốc từ Kho đạn dược của quân đội Hoàng gia Anh, chuyển nó qua đường Ai Cập để tráo đổi nhãn mác… Chúng tôi thậm chí còn huấn luyện họ về tâm lý. Lúc đầu, họ chỉ muốn đi vào làng để chém người thôi. Nhưng chúng tôi đã bảo họ cách làm sao cho có hiệu quả mà vẫn cảm thấy đỡ căng thẳng hơn…”

Bộ Ngoại giao Anh đã phản ứng trước những thông tin này bằng cách tuyên bố rằng đó là những lời nói láo. Một nghị sĩ Anh tuyên bố: “Nước Anh không có một sự giúp đỡ quân sự dưới bất kỳ hình thức nào cho các đảng phái ở Campuchia”. Maggaret Thatcher, thủ tướng Anh lúc đó đã viết cho Neil Kinnock rằng “Tôi xác nhận không có sự liên can nào giữa chính phủ Anh dưới bất kỳ hình thức nào tới việc huấn luyện, trang bị hay hợp tác với Khmer Đỏ hay những nhóm đồng minh với họ”. Nhưng đến ngày 25-6-1991, sau hai năm chối quanh, cuối cùng Chính phủ Anh cũng buộc phải thừa nhận rằng SAS đã bí mật huấn luyện “quân kháng chiến Kh’mer Đỏ” từ 1983.

Một bài phóng sự của “Asia Weekly” (Tuần Châu Á) tháng 7-1991 đã mô tả chi tiết: việc SAS đã dạy “cách chế tạo và sử dụng những bẫy mìn tự tạo, cách chế tạo và sử dụng những thiết bị kích nổ chậm”. Tác giả của bài phóng sự, phóng viên Rae McGrath (đồng Giải thưởng Nobel Hoà bình từ cuộc vận động quốc tế chống bom mìn), đã viết trên tờ “The Guardian” (Người bảo vệ) rằng “Việc huấn luyện của SAS là một chính sách phạm tội vô trách nhiệm và đê tiện”.

Cuối cùng thì một “lực lượng gìn giữ hoà bình” của Liên Hợp Quốc (UNTAC) cũng đã đặt chân đến ở Campuchia vào năm 1992. Bản “Hiệp ước bán linh hồn cho ác quỉ” giờ đây đã lộ rõ hơn bao giờ hết. Được gọi đơn thuần và nhẹ nhàng là một “thành phần trong cuộc chiến”, Khmer Đỏ được chào đón quay trở lại Phnom Penh bởi viên chức của Liên Hợp Quốc chứ không phải bởi người dân Campuchia. Một chính khách phương Tây, người được cho là đã dày công kiến tạo “tiến trình hoà bình”, Ngoại trưởng Australia Gareth Evans đã rào trước đón sau bằng việc yêu cầu nên có một cách tiếp cận “vô tư” đối với Khmer Đỏ và đặt ra câu hỏi rằng liệu việc gọi họ là diệt chủng có phải đã tạo ra “một viên đá cản đường hiện hữu” hay không ?

Khieu Samphan, thủ tướng của Polpot trong thời gian những năm diệt chủng đã tiếp nhận màn chào đón của Lực lượng giữ gìn hòa bình Liên Hợp Quốc. Đứng bên cạnh ông ta là tướng John Sanderson chỉ huy UNTAC người Australia. Eric Falt, người phát ngôn của Liên Hợp Quốc ở Campuchia nói với tôi: “Mục tiêu của tiến trình hòa bình là cho phép Kh’mer Đỏ gây dựng lại vị thế của nó”.

Hệ quả của việc Liên Hợp Quốc nhúng tay vào Campuchia thông qua UNTAC là việc phân lập không chính thức ít nhất một phần tư lãnh thổ Campuchia cho Kh’mer Đỏ quản lý (theo bản đồ quân sự của Liên Hợp Quốc). Việc đó đã không những không thể chấm dứt xung đột mà ngược lại, còn tạo điều kiện cho một cuộc nội chiến mới đang âm ỷ chờ dịp bùng phát. Kèm theo đó là cuộc bầu cử của một chính phủ bị chia rẽ đến mức không thể hàn gắn giữa hai “đồng thủ tướng” Pecho Hun Sen và Norodom Ranariddh.

Chính phủ Hun Sen sau đó đã thắng trong cuộc bầu cử thứ hai một cách áp đảo. Nhiều người coi ông ta là độc đoán và đôi khi thô bạo. Nhưng xét theo điều kiện thực tế ở Campuchia thì điều đó là bình thường bởii sự ổn định vẫn được đặt lên trên hết. Chính phủ ấy được dẫn dắt bởi một người bất đồng quan điểm với Khmer Đỏ cũ, chạy trốn sang Việt Nam từ những năm 1970, đã giải quyết xong những thỏa thuận với những nhân vật lãnh đạo thời Polpot, đáng chú ý là nhóm ly khai của Ieng Sary, trong khi từ chối miễn tố cho những người khác.

Một khi chính phủ Phnom Penh và Liên Hợp Quốc có thể đồng ý về một khuôn mẫu, một tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh chống loài người sẽ có nhiều khả năng tiến hành. Nhưng người Mỹ vẫn không muốn có sự tham gia nhiều của người Campuchia. Mối quan ngai của họ thật dễ hiểu vì sẽ không chỉ có Khmer Đỏ bị buộc tội.

Luật sư Campuchia biện hộ cho Ta Mok, người lãnh đạo quân Khmer Đỏ bị bắt năm ngoái (1999), đã nói: “Mọi người ngoại quốc liên quan phải được gọi ra trước tòa án, và sẽ không có những ngoại lệ… Có thể kể ra đây Madeleine Albright (ngoại trưởng Mỹ), Margaret Thatcher (thủ tướng Anh), Henry Kissinger (cố vấn An ninh Nhà Trắng), Jimmy Carter, Ronald Reagan và George H. W. Bush (các tioorng thống Mỹ)… Chúng tôi sẽ mời họ tới để nói cho thế giới biết rằng tại sao họ đã hỗ trợ cho Kh’mer Đỏ”.

Đó là một nguyên lý quan trọng mà Washington và Whitehall (Nhà Trắng) nên ghi nhớ nếu bây giờ họ lại đang nuôi dưỡng những tên bạo chúa tay dính đầy máu nào đó ở một nơi nào đó trên thế giới này.”

(Hết lược dịch, nguồn dịch thô của REDSVN, có chỉnh lý).
Nguồn: Bài viết trên fb của tác giả Tâm Minh Nguyễn
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2367014940245537&id=100008111627906