Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

CUỘC ĐẤU “VOI” – “LỪA” VÀ THỰC CHẤT CỦA DÂN CHỦ KIỂU MỸ
(hay “Đằng sau chiêu trò luận tội các tổng thống Mỹ”)

Chiều muộn ngày 18-12-2019, với 230 phiếu thuận/197 phiếu chống, Hạ nghị viện Mỹ đã thông qua bản luận tội đối với đương kim tổng thống Mỹ Donald Trump gồm các cáo buộc nghiêm trọng như lạm dụng quyền lực của tổng thống để gây nguy hiểm cho hiến pháp, cản trở hoạt động của Quốc hội, xâm hại an ninh quốc gia và làm suy yếu sự công bằng của cuộc bầu cử năm 2020. Trước đó 2 năm, một bản luận tội khác đối với ông Donald Trump đã được đưa ra biểu quyết tại Hạ nghị viện Mỹ hồi tháng 12-2017 nhưng thất bại khi chỉ nhận được 58 phiếu thuận/364 phiếu chống.

Theo quy định của pháp luật nước Mỹ, các cáo buộc của Hạ nghị viện Mỹ chỉ có ý nghĩa như một bản cáo trạng của cơ quan công tố đối với can phạm. Còn việc phán quyết tổng thống có tội hay không có tội thuộc thẩm quyền của Thượng nghị viện Mỹ, đóng vai trò như một bồi thẩm đoàn, đồng thời cũng là nơi quyết định xem có phế truất tổng thống hay không khi có kết luận rằng ông ta có tội. Còn Chánh án Tòa án tối cao Mỹ sẽ đóng vai trò “chủ tọa phiên tòa” và sẽ là người tuyên bố phán quyết cuối cùng. Sau đó, Tòa án Hiến pháp Mỹ sẽ thẩm định lại vụ việc và sẽ ra phán quyết về tính hợp pháp của toàn bộ tiến trình xử lý vụ việc của các tổ chức và cá nhân đã “tham gia tố tụng”.

Ngay sau đó, trên các trang BBC tiếng Việt, VOA tiếng Việt, RFA tiếng Việt, Việt Tân, Quê Mẹ .v.v… và nhiều trang tin/báo chống cộng của một số người Việt phản động ở hải ngoại, những người được gọi là “các nhà hoạt động dân chủ” đã vội vã “nâng bi” cho cái gọi là nền dân chủ Mỹ. Họ cho rằng ở một đất nước mà ngay cả tổng thống, người có quyền lực cao nhất đất nước, không những thế còn là người có quyền lực nhất thế giới cũng bị đem ra luận tội thì đó là điều minh chứng cho một xã hội dân chủ tự do nhất hạng tót vời.

Nhưng sự thật có phải đúng như họ nói không ?

1- Nhìn lại những lần buộc tội tổng thống Mỹ.

Nước Mỹ từ khi lập quốc (ngày 4-7-1774) đến nay đã trải qua 58 nhiệm kỳ tổng thống với 45 đời tổng thống Mỹ. Trong đó có 1 người giữ cương vị tổng thống 4 nhiệm kỳ liên tiếp (Franklin Delano Roosevelt, từ 1933 đến 1945); 15 người giữ cương vị tổng thống 2 nhiệm kỳ liên tiếp; 7 tổng thống Mỹ từ trần khi đang tại nhiệm, trong đó có 4 người chết do bị ám sát (gồm Abraham Lincoln, James Abram Garfield, William McKinley Jr. và John Fitzgerald Kennedy). Trong số 45 đời tổng thống Mỹ có 19 người là thành viên của đảng Cộng hòa, 16 người là thành viên của đảng Dân chủ, 4 người là thành viên của đảng Dân chủ cộng hòa, 2 người là thành viên của đảng Whig (một tổ chức chính trị dân tộc cực đoan, đã giải thể), 1 người là thành viên của đảng Liên bang (đã giải thể) và duy nhất 1 tổng thống không đảng phái (George Washington). Đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ là 2 tổ chức chính trị thay nhau chiếm đa số tại 2 viện của quốc hội Mỹ cũng như có thành viên giữ chức vụ tổng thống Mỹ từ năm 1829 đến nay.

Donal Trump không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên bị quốc hội Mỹ đưa ra các cáo buộc luận tội và càng không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên dính líu tới các vụ bê bối chính trị có nguy cơ bị đưa ra luận tội.

Lịch sử các tổng thống Mỹ cho thấy đã có tổng thống thứ 17 Andrew Johnson, người của đảng Dân chủ (trước năm 1808 là đảng Liên minh dân tộc), thay thế cố tổng thống Abraham Lincoln (bị ám sát) đã bị luận tội vì lạm dụng quyền phủ quyết của tổng thống để ngăn cản việc hủy bỏ chế độ nô lệ ở các bang miền Nam nước Mỹ sau nội chiến. Không những thế, Andrew Johnson còn vi phạm Đạo luật nhiệm kỳ, trong đó có quy định hạn chế quyền hạn của tổng thống trong việc sa thải các thành viên nội các nếu không được Thượng nghị viện chấp thuận. Bất chấp đạo luật này, Andrew Johnson đã tự tiện sa thảo ông Edwin Stanton, Bộ trưởng Chiến tranh và là đối thủ chính trị của ông ta. Bản luận tội tổng thống Andrew Johnson gồm 11 cáo buộc đã được Hạ nghi viện Mỹ khi đó do đảng Cộng hòa nắm đa số thông qua và trình lên Thượng nghị viện. Tuy nhiên, vì thiếu đúng 1 phiếu để đạt được đa số 2/3 số thượng nghị sĩ Mỹ bỏ phiếu bãi nhiệm, tổng thống Andrew Johnson đã thoát “án phế truất” và tiếp tục tại vị đến hết nhiệm kỳ (1865-1869).

Vào những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ 1969-1973, tổng thống Mỹ Richard Nixon đã dính vào một vụ bê bối chính trị đình đám nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ngày 17-6-1972, các nhân viên bảo vệ của trụ sở của Ủy ban Toàn quốc đảng Dân chủ Mỹ tại khu phức hợp văn phòng-khách sạn Watergate đã tóm được 5 kẻ tình nghi đội lốt thợ sửa ống nước đang sử dụng các máy ghi âm vô tuyến điện để thu nhận tín hiệu của các máy nghe trộm đã được cài đặt tại đây. Kết quả thẩm vấn và điều tra của FBI tới đầu năm 1973 đã làm lộ mặt các nhân vật chủ mưu vụ nghe trộm nổi tiếng này gồm có Howard Hunt, cố vấn tình báo của Nhà Trắng, kẻ vạch kế hoạch thu thập thông tin từ trụ sở đảng Dân chủ; cựu Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell, khi đó đang giữ chức Giám đốc Ủy ban vận động tái cử của Tổng thống; Chánh văn phòng Nhà Trắng Halderman; phụ tá đặc biệt của tổng thống John Ehrlichman; trợ lý tổng thống John Dean; thư ký Ủy ban vận động tái cử của Tổng thống Gordon Liddy; và đương nhiên là cả Tổng thống đương nhiệm Richard Nixon.

Nhưng vì vụ việc vẫn chưa thể làm rõ ngay lập tức nên bằng các thủ đoạn vận động cả chính diện lẫn lừa bịp như ký kết hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn I với Liên Xô (SALT-I), thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, hứa hẹn ký Hiệp định Paris vào tháng 10-1972 để đem lại hòa bình ở Việt Nam (sau khi tái cử, Nixon lật lọng và đem B-52 trút bom xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên…) .v.v… Richard Nixon vẫn tái cử nhiệm kỳ thứ 2 (1973-1977).

Tuy nhiên, các kết quả điều tra tiếp theo của cả FBI lẫn các ủy ban điều tra của Hạ nghị viện và Thượng nghị viện Mỹ đã phơi bày âm mưu đánh cắp thông tin từ đối thủ chính trị (đảng Dân chủ) của Nixon và các cộng sự của ông ta trong đảng Cộng hòa. Mặc dù trong các phiên tòa hình sự diễn ra trong nửa đầu năm 1973, Richard Nixon đã lần lượt “thí” 5 “thợ sửa ống nước” của ông ta, “thí” cả Chánh văn phòng Nhà trắng, “thí” cả phụ tá đặc biệt của tổng thống lẫn trợ lý tổng thống, “thí” cả giám đốc lẫn thư ký Ủy ban vận động tái cử nhưng ông ta vẫn không thể ngăn cản được một cuộc điều tra quy mô nhằm vào chính ông ta do Ủy ban điều tra Thượng nghị viện Mỹ (khi đó do đảng Dân chủ nắm đa số) tiến hành.

Ngày 16-7-1973, Alexander Butterfield, cựu Chánh Văn phòng Nhà Trắng đã tiết lộ về một cuốn băng ghi âm cuộc nói chuyện bí mật trong phòng riêng của Tổng thống. Ngày 23-7-1973, Ủy ban điều tra của Thượng viện Hoa Kỳ đã yêu cầu Nhà Trắng phải mang các cuộn băng ghi âm trên tới tòa. Richard Nixon đã từ chối và nói rằng các cuốn băng đã bị hỏng. Trước sức ép của chính giới và công luận Mỹ ngày 8-12-1973, Nixon buộc phải cho công bố những cuốn băng bí mật. Nhưng chỉ có 7 băng trong số 9 cuốn được gửi đến theo yêu cầu của thẩm phán Sirica. Nhà Trắng tuyên bố rằng không hề có 9 cuốn băng như lời của Sirica. Khi Ủy ban điều tra kiểm tra 7 cuốn băng được trình lên tòa thì có một băng bị vấp và ngắt quãng nhiều lần. Sự ngắt quãng đó được các chuyên viên âm thanh kết luận rằng đó không phải là một sự ngẫu nhiên. Sự việc gian dối của tổng thống thứ 37 của Mỹ chỉ được làm sáng tỏ hoàn toàn khi trợ lý tổng thống John Dean, bất chấp việc bị sa thải và đe dọa đã ra làm chứng trước tòa, tiết lộ những bằng chứng về sự dính líu trực tiếp của Nhà Trắng trong vụ bê bối, Dean cũng chứng minh việc Nixon biết rõ mọi việc và cố tình cản trở  việc điều tra.

Ngày 20-5-1974, thẩm phán Sirica lại yêu cầu Nixon phải đưa ra những cuốn băng còn lại. Ngày 24-7-1974 Tòa án tối cao Mỹ đã nhất trí với yêu cầu buộc Nixon phải bàn giao toàn bộ những bản sao của các cuốn băng. Đến lúc này, Nixon vẫn cố tình cản trở cuộc điều tra. Ngày 5-8-1974, ông ta đã cung cấp bản sao của 2 cuốn băng còn lại  nhưng nó đã bị xóa sạch những gì có dính líu tới ông ta. Tuy nhiên, các nhà điều tra của Ủy ban Tư pháp Hạ nghị viện Mỹ sử dụng công nghệ “xử lý từ dư” trên các cuốn băng đã khôi phục lại “lệnh miệng” của Richard Nixon yêu cầu cả FBI lẫn CIA phải dừng cuộc điều tra và công bố các thông tin đó trên tờ Washington Post. Trước những “bằng chứng cấm cãi” và bản dự thảo luận tội dày trên 300 trang do Hạ nghị viện Mỹ thông qua ngày 27-7-1974 và chuẩn bị đệ trình Thượng nghị viện Mỹ xem xét; ngày 9-8-1974, Richard Nixon đã phải từ chức để tránh bị đem ra luận tội và phế truất, biến nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thứ 47 thành một trong những nhiệm kỳ dang dở và tồi tệ bậc nhất lịch sử chính trị Mỹ khi ông ta là tổng thống Mỹ duy nhất phải từ chức kể từ ngày nước Mỹ lập quốc tới nay.

Richard Nixon qua đời ngày 22-4-1994. Tại buổi tang lễ của ông ta, tổng thống Mỹ khi đó là William Clinton phát biểu: “Chúng ta hãy nhất trí với nhau rằng đây là ngày mà chúng ta nên ngừng phán xét Richard Nixon”. Trớ trêu thay, 4 năm sau, chính tổng thống Bill Clinton lại trở thành đối tượng điều tra trong nhiệm kỳ thứ hai của mình và có nguy cơ bị luận tội. Tuy nhiên, vụ điều tra mang động cơ chính trị này lại được khoác một bộ áo cánh rất mốt, rất hấp dẫn công chúng khi đó và cả bây giờ. Đó là một vụ “tình dục công sở”.

Bắt nguồn từ một số vụ giao dịch bất động sản gian lận bị báo chí phát hiện và đăng tải trong tháng 1-1998, Bill Clinton đã bị Công tố viên đặc biệt của Bộ Tư pháp Mỹ Kenneth Starr mở rộng điều tra và từ đây, mối “quan hệ đặc biệt” của ông ta với cô thực tập sinh trẻ trung tại Nhà Trắng Monica Lewinsky bị phanh phui. Bất chấp những lời phủ nhận của đương kim tổng thống Mỹ, cô thực tập sinh trẻ tuổi đã “khai tuốt tuồn tuột” với các nhân viên điều tra của Bộ Tư pháp Mỹ rất rành mạch và “rõ nét tới từng chi tiết”. Ngày 9-9-1998, một dự thảo bản luận tội tổng thống Mỹ dày hơn 400 trang đã được trình lên Ủy ban điều tra Hạ nghị viện Mỹ. Tháng 12-1998, bản luận tội đối với Bill Clinton được Hạ nghị viện Mỹ bỏ phiếu thông qua và trình lên Thượng nghị viện Mỹ với hai cáo buộc: Khai báo gian dối và cản trở công việc của quốc hội.

Khác với Richard Nixon, Bill Clinton đã nhất quyết không từ chức. Thậm chí, khi kết thúc nhiệm kỳ thứ hai năm 2001, qua một cuộc điều tra dư luận xã hội của Viện Galup, ông ta vẫn thu được sự ủng hộ của 65% dân chúng Mỹ, cao nhất trong số các tổng thống Mỹ ở nửa cuối thế kỷ XX. Thậm chí, tờ Wall Street Journal (Nhật báo Phố “Bức tường”) trong bảng xếp hạng năm 2000 còn đánh giá Bill Clinton vào loại tổng thống “khá” của Mỹ, đứng thứ 18 trong số 43 tổng thống Mỹ (tính đến năm 2000). Có lẽ vì uy tín lớn của Bill Clinton đối với dân chúng Mỹ cũng như đối với quốc tế; đồng thời cũng nhận thấy những lý do cáo buộc khá “vớ vẩn” của “bên nguyên” nên Thượng nghị viện Mỹ trong kỳ họp tháng 2-1999 đã quyết định bác bản luận tội của Hạ nghị viện và “tha bổng” cho ông ta.

2- Vụ luận tội Donald Trupomp và hai hệ thống chính trị công khai - bí mật của nước Mỹ.

Và bây giờ, vụ điều tra tiến tới luận tội vị tổng thống thứ 45 của nước Mỹ đang diễn tiến tới cao trào và có vẻ như chưa đến hồi kết, thu hút không ít sự quan tâm của công chúng và cũng làm cho báo giới tốn không ít giấy mực. Lý do luận tội đối với Donald Trump tương tự như lý do mà Richard Nixon bị luận tội. Đó là “chơi bẩn” với đối thủ chính trị.

Tuy nhiên, nếu theo như các cáo buộc của phe dân chủ trong Hạ nghị viện Mỹ thì Donald Trump có vẻ “cao tay” hơn Richard Nixon. Ông ta không cần dùng đến các “thợ sửa ống dẫn nước”, cũng không cần dùng đến các phương tiện nghe trộm tinh vi mà nền công nghệ Mỹ đang là “đỉnh cao của thế giới”, cũng không cần phải tốn nhiều công sức vào việc “trinh sát” chủ trương đường lối của đối thủ chính trị… Ông ta chỉ cần đưa đối thủ chính trị ra tòa là xong. Nếu cha con ông Joe Biden bị đưa ra tòa dù chỉ vì tội gian lận thu nhập, kinh doanh trái phép, trốn thuế thì cũng thân bại danh liệt, còn tranh cử với ai được nữa ? Và để đạt được điều này, phe dân chủ tại Hạ nghị viện Mỹ đã cáo buộc Donald Trump vừa vận động tân tổng thống Ukraina Volodimir Zelensky điều tra hình sự con trai ông Joe Biden đang làm ăn tại nước này; đồng thời “găm” khoản viện trợ 400 triệu Dollar Mỹ làm con bài mặc cả với Ukraina và vừa tiếp tục "thông đồng với người Nga"..

Thực ra thì ngón võ “thông đồng với người Nga” đã được phe Dân chủ ở Hạ nghị viện Mỹ sử dụng ngay từ khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ thứ 45 đang diễn ra quyết liệt cũng như ngay cả sau khi Donald Trump đắc cử. Các chiến dịch tấn công liên tục của phe Dân chủ ở nước Mỹ, từ các cuộc biểu tình phản đối Donald Trump đắc cử, đến các cáo buộc gian lận kiểm phiếu, đến các cáo buộc liên kết với người Nga đẻ người Nga dùng kỹ thuật Internet can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ .v.v… đã làm cho nước Mỹ đứng bên bờ vực một cuộc “nội chiến chính trị” nghiêm trọng. Nhiều người cho rằng kể từ sau Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), chưa bao giờ, nước Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng như hiện nay.

Nếu chỉ nhìn về hình thức thì có vẻ như các thế lực chính trị đầu sỏ của nước Mỹ đang muốn ăn sống nuốt tươi nhau, đang quyết sống mái với nhau trong cuộc vận động tranh cử cho nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thứ 59. Nhưng nếu nhìn về bản chất của chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, người ta có thể nhận thấy được động cơ, mục đích thực sự của cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt này. Thực chất, đó đơn giản là sự “tranh ăn” giữa những “con chó sói”. Hay nói cách khác, đó làm mâu thuẫn nội bộ giữa các tập đoàn tư bản Mỹ có quyền lợi giống nhau nhưng không phải là quyền lợi chung.

Trong cương lĩnh tranh cử của mình, Donald Trump đã vạch ra những nguy hiểm mà nước Mỹ đang và sẽ phải đối mặt. Nếu không đặt mình vào địa vị của một công dân Mỹ hay cao hơn là vào một nhà tư bản tài phiệt hoặc công nghiệp ở phố Wall, người ta sẽ không hiểu được Donald Trump nghĩ gì và muốn gì. Ở nước Mỹ có một điều hết sức rõ ràng là chủ nghĩa tư bản Mỹ từ khi khai quốc tới nay luôn là sự cạnh tranh giữa hai thế lực tư bản lớn nhất nước Mỹ và cũng lớn nhất thế giới cả về quy mô kinh tế lẫn quan điểm, lập trường chính trị cũng như chủ trương chính sách.

Khác với chủ nghĩa tư bản Hà Lan, Anh, Pháp, Đức .v.v… Chủ nghĩa tư bản Mỹ không phải trưởng thành trong môi trường xã hội phong kiến nhưng về mặt nguồn gốc xã hội, nó còn mang những gen di truyền tồi tệ hơn cả môi trường xã hội phong kiến. Đó là chế độ nô lệ. Nước Mỹ đã có những sự tăng trưởng vượt bậc của nó trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX nhờ sự bóc lột sức lạo động của hàng trăm triệu nô lệ được “nhập cư” qua con đường mua bán người từ Châu Phi sang Châu Mỹ.

Như một lẽ tự nhiên, công nghệ mới của các nhà khoa học, các nhà kỹ nghệ sẽ trở nên vô dụng nếu như không có sức lao động của con người. Vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi mô hình xã hội nô lệ hầu như đã bị xóa bỏ ở Châu Âu thì ở nước Mỹ, đặc biệt là các bang miền Nam nước Mỹ, mô hình xã hội chủ nô-nô lệ dựa trên phương thức sản xuất nông nghiệp đã đem lại bạc tỷ cho những chủ nô. Trong khi đó, mô hình xã hội dân chủ mới mà thực chất là một hình thức nô lệ kiểu mới trên cơ sở phương thức sản xuất công nghiệp đã tạo nên sự đối lập dẫn đến cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865). Cuộc nội chiến ấy đã không dẫn đến một thay đổi có tính cách mạng nào trong xã hội Mỹ khi tập đoàn tư bản công nghiệp miền Bắc giành ưu thế trước các tập đoàn điền chủ phong kiến miền Nam đã chuyển đối thành tư bản nông nghiệp. Chỉ duy nhất có một điều người Mỹ làm được sau Châu Âu hàng nghìn năm. Đó là việc xóa bỏ chế độ nô lệ đối với hàng trăm triệu lao động nhập cư da màu ở nước Mỹ. Nhưng đó lại cũng không phải là một sự giải phóng thật sự và đến cùng.

Bản chất sâu xa nhất của cái gọi là phong trào giải phóng nô lệ ở nước Mỹ trước, trong và sau Nội chiến Mỹ không phải là sự giải phóng cho con người như nhiều nhà sử học tư sản vẫn tô vẽ và nhiều người ngây thơ vẫn tin tưởng như vậy. Thực chất, đó là việc các tập đoàn tư bản công nghiệp ở miền Bắc nước Mỹ tước đoạt sức lao động của các nô lệ ở miền Nam nước Mỹ khỏi tay giới điền chủ nông nghiệp để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa được khởi xướng từ miền Bắc nước Mỹ. Trong cái gọi là “công cuộc giải phóng nô lệ” này, khi những người nô lệ da màu thoát khỏi sự thống trị của các điền chủ Mỹ thì họ lại rơi vào một hoàn cảnh nô lệ khác. Đó là làm nô lệ cho các tập đoàn tư bản công nghiệp Mỹ. Về bản chất sức lao động xã hội, thân phận của họ vẫn không thay đổi, chỉ có các “ông chủ” của họ là thay đổi mà thôi.

Và theo sự phát triển tự nhiên của tất cả các xã hội tư bản, chủ nghĩa tư bản Mỹ cũng bị phân hóa thành hai cộng đồng. Cộng đồng tư bản thứ nhất và cũng có lịch sử lâu đời nhất là cộng đồng tư bản tài chính-ngân hàng mà trong đó có tới hơn 2/3 là người Do Thái. Tư bản tài chính-ngân hàng chính là cha đẻ của tất cả các thể loại tư bản sau này. Cộng đồng tư bản thứ hai là cộng đồng tư bản công nghệ-kỹ thuật (gọi tắt là tư bản kỹ nghệ) hình thành muộn hơn, bao gồm những kỹ sư kiêm doanh nhân.

So với giới tư bản tài chính-ngân hàng vốn thoát thai từ giới địa chủ mạt kỳ hay giới nhân viên quản gia cho tầng lớp địa chủ ấy thì giới tư bản kỹ nghệ có trình độ thực tiễn cao hơn, có cách làm việc khoa học hơn, hàng động luôn cương quyết hơn và có chí tiến thủ hơn hẳn đối thủ. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giới tư bản kỹ nghệ đem lại nhiều công ăn việc làm hơn hẳn so với giới tư bản tài chính-ngân hàng à cũng khai mở tri thức nhiều hơn cho người lao động. Và cũng vì thế mà giới tư bản kỹ nghệ bị lên án là “kẻ bóc lột tàn bạo” hơn trong khi trên thực tế, chính giới tư bản tài chính-ngân hàng mới là những kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” hơn hết thảy.

Mâu thuẫn giữa hai thế lực tư bản này đã hình thành và kéo dài trong suốt hơn 400 năm lịch sử của nước Mỹ. Và bây giới, sự kiện luận tội Donald Trump chỉ là mọt sự tiếp diễn thường thấy trong lịch sử cạnh tranh giữa hai thế lực tư bản lớn nhất ấy của nước Mỹ mà thôi. Và lịch sử chủ nghĩa tư bản Mỹ luôn thể hiện các chu kỳ tài cân bằng quyền lực của các tập đoàn tư bản lớn nhất của nước Mỹ.

Đó chính là bản chất của nền dân chủ Mỹ, một nền dân chủ chỉ dành cho những ông chủ chứ không dành cho toàn bộ dân chúng Mỹ và lại càng không phải là dành cho những người lao động, những nô lệ mới của các ông chủ mới.

3- Nước Mỹ chỉ có dân chủ thật sự trong nội bộ giới siêu tư bản cầm quyền.

Vào giữa thế kỷ thứ XX của nhân loại, một thế lực tư bản thứ ba ra đời ở Mỹ. Đó là thế lực tư bản kỹ nghệ. Hay như bây giờ người ta vẫn thường nói là các tập đoàn tư bản công nghệ cao, sinh sông và phát triển bằng nền kinh tế tri thức. Dựa trên thành quả các phát minh lớn của nhân loại như công nghệ bán dẫn, công nghện điện tử-vi điện tử, công nghệ thông tin-tin học, công nghệ nano, công nghệ truyền thông .v.v… các tập đoàn tư bản công nghệ cao đã hình thành và nhanh chóng chiếm lĩnh phần “trận địa” của mình ở phố Wall.

Tuy nhiên, các tập đoàn tư bản công nghệ cao này không bao giờ trở thành một thế lực chính trị độc lập và khó có thể thành lập được một đảng chính trị ở Mỹ có vị thế và vai trò độc lập với hai đảng “Con Voi” và “Con Lừa” như nhiều người vẫn lầm tưởng và hy vọng. Trước hết, đó là vì các tập đoàn tư bản công nghệ cao vẫn phải sử dụng vốn đầu tư từ cả hai tập đoàn tư bản “lão làng” kia, đặc biệt là từ các tập đoàn tư bản tài chính-ngân hàng. Hai là sản phẩm của họ được các hai tập đoàn tư bản “Con Voi” và “Con Lừa” tiêu thụ. Nói cách khác, thị trường sản phẩm của họ chịu sự chi phối của thị trường vốn, thị trường sản phẩm công nghiệp và tiêu dùng .v.v… Chính vì sự phụ thuộc ấy mà xét đến cùng, giới trí thức tinh hoa của nước Mỹ cho dù họ có trong tay khối tài sản hàng chục tỷ Dollar thì họ cũng vẫn chỉ là những kẻ làm thuê cho các ông chủ tư bản mà thôi.

Điều đó làm phát sinh một dạng thức tư bản mới: “Tư bản xã hội”. Khác với mô hình chủ nghĩa tư bản trung kỳ ở Anh, Pháp, Đức… hay mô hình tư bản sơ kỳ ở Hà Lan, dòng tư bản ở Mỹ được khuyến khích lưu thông trong xã hội với vận tốc vòng quay càng nhanh càng tốt thay vì đọng tại, tích tụ lại trong các “kho bạc”. Khi đó, quyền sở hữu khối tư bản ấy thuộc về những kẻ điều hành vòng quay của chúng và tăng tốc hay giảm tốc những vòng quay đó. Trong cái guồng máy tư bản mới kiểu Mỹ ấy, từ tống thống, thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ, các thành viên chính phủ Mỹ, chánh án, thẩm phán tòa án liên bang, thống đốc bang, bộ trưởng.v.v… cho đến những người lao động bình thường đều là những kẻ làm thuê cho các ông chủ tư sản cá mập nắm giữ các “cổ phần sư tử” ở thị trường chứng khoán phố Wall và các thị trường chứng khoán chủ chốt khác trên thế giới.

Sự vận hành của chủ nghĩa tư bản Mỹ được ẩn chứa trong Hiến pháp Mỹ và hàng trăm nghìn đạo luật lớn nhỏ không cho phép một tập đoàn tư bản nào đó nắm quyền hành tuyệt đối ở nước Mỹ. Cơ chế tam quyền phân lập của nền chính trị Mỹ cũng hình thành từ các thỏa thuận phân chia quyền lực giữa các tập đoàn tư bản tài phiệt hàng đầu của nước Mỹ. Một khi một tập đoàn tư bản nào đó có xu hướng chiếm ưu thế tới mức cận độc quyền và khống chế các tập đoàn tư bản khác thì cơ chế chống độc quyền chính trị được kích hoạt, Những “ông chủ trong bóng tối” nắm trong tay các tập đoàn tư bản khổng lồ của Mỹ và xuyên quốc gia sẽ bằng mọi cách, sử dụng mọi biện pháp, kể cả bằng các biện pháp tàn bạo nhất cũng như bẩn thỉu nhất như ám sát chính trị, truy tố chính trị, luận tội chính trị, dàn dụng các vụ scandal.v.v… miễn sao lập lại thế cân bằng quyền lực trong giới tư bản đầu sở ở Mỹ, qua đó, duy trì mô hình xã hội tư bản Mỹ, đồng thời, duy trì quyền lực của nước Mỹ.

Vì thế, việc Hạ nghị viện Mỹ thông qua dự thảo bản luận tội tổng thống thứ 45 của nước Mỹ Donald Trump không có gì mới lạ. Đó chẳng qua chỉ là một trong những “trò chơi chính trị” dựa trên nền dân chủ chỉ giành cho 1% dân số Mỹ đang sở hữu 99% nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của nước Mỹ. 99% dân số Mỹ còn lại và cả thế giới chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng từ những hậu quả mà các “trò chơi chính trị” đó đem lại. Các quốc gia, dân tộc, các doanh nhân, các chính khách.v.v… nếu không có sự, nhận định sớm, đánh giá sớm, chủ động đối phó kịp thời, xoay chuyển khéo léo và ứng biến linh hoạt sẽ khó tránh khỏi thiệt hại của việc “trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết” ở Mỹ nhưng lại có tầm ảnh hưởng toàn cầu này.

Và dù thế nào đi nữa thì bản chất của nền chính trị Mỹ, bản chất của chủ nghĩa tư bản Mỹ vẫn không hề thay đổi. Mỗi một lần cải cách gì đó ở nước Mỹ hay đơn giản là thay đổi một tống thống, một chính phủ, một thượng nghị viện, một hạ nghị viện .v.v… cũng chỉ như một minh tinh màn bạc Hollyood thay một tấm áo này bằng một tấm áo khác để vào một vai diễn khác, thay một cái bình mới cho bắt mắt để lại tiêu thụ món rượu cũ mà thôi.
Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2505981723015524&id=100008111627906

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.