Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

TẠI SAO PHẢI BẢO TỒN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA, LỊCH SỬ CỘI NGUỒN

Mọi người có bao giờ đặt câu hỏi tại sao nước Mỹ thời kỳ tăm tối nhất, man rợ nhất thì nô lệ chỉ là người da đen chứ không có nô lệ da đỏ?

Nếu không biết thì các anh các chị ngồi trật tự nghe tôi giả nhời.
Những người da đen tận châu Phi bị rợ da trắng túm cổ trói gô vứt lên tàu chở sang Mỹ rồi bị mua bán sang tay như súc vật. Nô lệ là như vậy, là những con người bị bứng khỏi quê cha đất tổ, cách ly khỏi không gian văn hoá. Những nô lệ giao cấu cho ra những đứa trẻ, chúng đã là nô lệ ngay từ lúc lọt lòng mẹ, rợ da trắng có thể bán nô lệ con như bán chó con ...Cứ thế, nô lệ da đen không biết gì về cội nguồn, gốc gác. Nô lệ, những người có màu da đen và cái dấu nô lệ trên da thịt được đóng bằng sắt nung đỏ. Nô lệ da đen làm gì có gia phả. Trường hợp dòng dõi của  anh nô lệ Kunta Kinte làm gia phả mồm qua 7 thế hệ trên đất Mỹ là cực hiếm, chính thế cháu đời thứ 7 chép lại gia phả nhà mình thành cuốn sách "cội rễ" mới bán chạy như tôm tươi.
Người da đỏ bản xứ bị rợ da trắng tàn sát gần hết bằng nhiều hình thức man rợ kể cả việc tàn sát bò rừng Bắc Mỹ, nguồn thực phẩm chính của họ. Họ ngã gục dưới sức mạnh "gậy khạc lửa" hoặc chết dần chết mòn vì đói nhưng rợ da trắng không bắt họ làm nô lệ được. Người da đỏ biết gốc gác, biết dòng tộc, biết  bảo tồn văn hoá truyền thống, chính thế, người da đỏ không thành nô lệ. Những chiến binh da đỏ chỉ với giáo mác rìu búa cung tên đã chiến đấu đến chết vì niềm kiêu hãnh của họ. Lịch sử Mỹ có hàng đống cuộc kháng chiến của các tù trưởng da đỏ.
Các anh các chị thấy lịch sử truyền thống, bản sắc văn hoá quan trọng như thế nào rồi phỏng? Và với một dân tộc luôn phải đối mặt với nguy cơ ngoại xâm thì lịch sử - truyền thống - văn hoá là tấm áo giáp cuối cùng bảo vệ tồn vong của dân tộc. Người Việt Nam xem trọng truyền thống chống ngoại xâm hay kỷ niệm long trọng các chiến thắng chống quân xâm lược là có cái lý cả, ấy là việc bảo quản bảo trì "bộ giáp" kia. Nhiều con hợm mồm loe có vẻ rất khó chịu vì điều này, bỏn tru tréo dân Việt Nam "ăn mày dĩ vãng", "thủ dâm tinh thần".  Kỷ niệm long trọng Quốc Khánh (hay thắng Mỹ thống nhất đất nước)  tất nhiên sẽ có những kon hợm mồm loe gào rú "lãng phí" "không cần thiết" sao không "lấy tiền đấy chia cho người nghèo". Mình éo ngạc nhiên tẹo nào, an ninh quốc gia, tồn vong của dân tộc là việc mà những con hợm mồm loe não nằm  dưới đít không cách chi hiểu được. Chính thế bỏn mới  ăng ẳng cái vụ Hà Nội cấm đường luyện tập diễu binh gây "phiền hà cho dân", bỏn thắc mắc sao Mỹ hẻm cóa diễu binh này nọ cho quốc khánh. Dkm , độc lập của Mỹ và của Việt Nam cái nào máu đổ nhiều hơn? Oa-sinh- tơn  và bộ sậu "kháng chiến" của nó là những thằng rợ thực dân sang Bắc Mỹ cướp đất và tàn sát người da đỏ tới lúc chán ăn chia với "hoàng dza Anh"  thì bỏn ly khai. Lịch sử Mỹ gọi việc chấm dứt thỏa thuận ăn chia trên xương máu người da đỏ  kia là "kháng chiến giành độc lập" mới là thủ dâm tinh thần thưa các con hợm.
Các anh các chị hãy mặc kệ những kon hợm lạc loài ấy đê. Chúng ta hãy cùng vun đắp niềm tự hào dân tộc, hãy dạy con em mình biết rưng rưng trước tượng đài Tổ Quốc quyết  sinh, dạy chúng cảm nhận được hồn nước linh thiêng trong quốc kỳ tung bay, ấy là chúng ta chung tay đảm bảo dân tộc ta trường tồn.
Nguồn: Bao Bất Đồng.

(Tít bài do Sưu tầm và lưu trữ đặt. Có chỉnh sửa một vài từ ngũ, nhưng không làm thay đổi nội dung)

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

GIÁO DỤC VÀ SỰ NGHIỆP THU TIỀN

Dẫn nhập 


Việt Nam trước đây theo chế độ bao cấp dịch vụ công ích. Ví dụ điển hình là hai ngành y tế và giáo dục. Nhà nước dùng tiền ngân sách để chi trả cho y tế và giáo dục, do vậy người dân đi khám chữa bệnh và đi học đều không phải đóng tiền, hoặc có phải nộp phí thì chỉ nộp một phần rất nhỏ. Thế nên nói rằng phí dịch vụ thấp vừa đúng vừa sai, đúng ở chỗ người dân đóng phí thấp, nhưng sai ở chỗ phí đó không phải là toàn bộ khoản tiền mà ngành dịch vụ công nhận được. 


Nhờ có quỹ bảo hiểm y tế mà ngành y tế tăng giá dịch vụ thành công, thế là hàng sa số các dịch vụ y tế ra đời nhằm tối đa hóa các khoản thu từ quỹ bảo hiểm y tế. Các bệnh viện đua nhau mời người dân đến khám chữa bệnh, tất nhiên không ai trả phí nhiều, phần lớn nguồn thu là từ quỹ bảo hiểm y tế và thế là không thấy bệnh viện kêu rằng phí dịch vụ thấp nên chất lượng thấp nữa.


Giáo dục thì chưa có cái quỹ bảo hiểm giáo dục nào nên vẫn chưa đâu với đâu cả. Ngành giáo dục vẫn đang đòi thu tiền, càng nhiều càng tốt, lý do chủ yếu là những ưu đãi nhà nước cấp cho họ không phải là tiền mặt, họ cần biến cái đó thành tiền mặt. Do đó, câu chuyện lại quay về vấn đề học phí và chất lượng.


Vào năm 2006, nước Đức vốn có truyền thống bao cấp giáo dục cũng thông qua luật thu học phí đại học, lý do y hệt Việt Nam bây giờ, cũng là thu học phí cao để đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục và giảm thiểu tình trạng đi học đại học bừa bãi do không mất tiền. Chỉ sau hai năm, chính sách tân tự do của nước Đức bị bãi bỏ một cách lặng lẽ, 


Việc thu học phí cao có những tác động gì?


1. Chất lượng giáo dục hỗn loạn: 


Chỉ cần nhìn sang nước Mỹ là thấy, tự do thu học phí nên bên cạnh những trường chất lượng tốt thì cũng có hàng sa số những xưởng bán bằng cấp, các trung tâm giáo dục chẳng ra gì với mức phí hợp túi tiền để đáp ứng nhu cầu của người học. Do vậy, nước Mỹ buộc phải dựa vào một hệ thống kiểm định giáo dục phức tạp để xác định xem trường nào cấp bằng thật, trường nào là bằng dỏm. Việc thu học phí cao trong nền kinh tế thị trường không tạo ra một hệ thống giáo dục chất lượng cao, ngược lại còn tạo điều kiện để những dạng kinh doanh giáo dục chất lượng thấp sinh sôi nảy nở. Tất nhiên các nhà kinh doanh thích điều đó, họ kiếm tiền đầy túi từ sự bát nháo ấy. 


2. Suy giảm số lượng người đi học: 


Do rào cản chi phí cao nên một số lượng lớn người đi học sẽ từ bỏ việc học và tham gia vào thị trường lao động. Số lượng sinh viên có khả năng chi trả học phí cao không phải là vô hạn. Việc thu học phí đại học ở nước Đức vào năm 2006 đã cho thấy điều đó. Các trường đại học kinh hãi trước điều này, sinh viên là nguồn thu nhập của họ, nhưng giờ nguồn thu nhập đó suy giảm nhanh chóng. Các trường đại học buộc phải cạnh tranh khốc liệt để thu hút sinh viên đủ khả năng chi trả học phí cao. Bài toán trở nên luẩn quẩn, cơ sở giáo dục muốn có tiền thì phải đầu tư thu hút sinh viên, nhưng muốn đầu tư thì lại phải có tiền. Cơ sở giáo dục tư nhân hoàn toàn có thể làm được điều này khi kêu gọi các nhà tư bản đầu tư, còn cơ sở giáo dục công thì tình hình tồi tệ hơn nhiều do ngân sách nhà nước ít có khả năng đáp ứng. Hệ quả của việc này là một số lượng lớn các cơ sở giáo dục công sẽ buộc phải tư nhân hóa để tồn tại.


3. Gia tăng sử dụng lao động giá rẻ và suy giảm nhu cầu về lao động có kỹ năng:


Học phí cao dẫn đến hệ quả là một phần lớn lực lượng lao động từ bỏ việc học sớm hơn và chấp nhận tham gia vào thị trường lao động có kỹ năng thấp. Tiền lương của người lao động là do chi phí tạo ra sức lao động quyết định. Chi phí tạo ra sức lao động giờ thấp hơn nên tiền lương của người lao động cũng sẽ thấp hơn. Doanh nghiệp nhanh chóng tận dụng điều này bằng cách chuyển sang các công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều nhân công giá rẻ để gia tăng tỷ suất lợi nhuận. Làn sóng này sẽ khiến cho các lao động có tri thức và kỹ năng bị thất nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu về giáo dục và buộc các cơ sở giáo dục phải cơ cấu lại tổ chức để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Xu hướng đào tạo nghề thay cho giáo dục đại học là biểu hiện cụ thể của việc cho thấy người học giảm việc học và tham gia thị trường lao động sớm hơn. Tất cả những điều này có nghĩa là tri thức phải quy phục thị trường, giới trí thức trong lĩnh vực công bị đẩy vào tình trạng bấp bênh, nhất là khi họ không có truyền thống sống nhờ việc kinh doanh giáo dục.


Đây chính là chỗ tiết lộ bí mật của nước Đức, giới tinh hoa lãnh đạo ngành giáo dục ở Đức cảm thấy việc thu học phí cao mặc dù đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư tư nhân, song lại lại đe dọa đến đặc quyền, lợi ích và sự tôn kính của xã hội đối với ngành giáo dục. Do đó, họ nhanh chóng tìm cách loại bỏ chính sách thu học phí cao. Nước Đức lặng lẽ quay lại với truyền thống cổ xưa.


Kết luận


Thực ra không có kết luận nào cả. Học phí vốn không do người học quyết định. Đó là sự xung đột giữa lợi nhuận và đặc quyền. Do đó, học phí đi theo hướng nào là do sức mạnh của các thế lực tham gia vào sự xung đột ấy quyết định. Hôm nay, người ta nói thu học phí cao để nâng cao chất lượng giáo dục, ngày mai người ta sẽ nói phải miễn học phí để ai cũng được đi học. Ngày kia, người ta có thể nói phải mở trường học ở sao Hỏa để khai hóa văn minh cho các tộc man di ngoài vũ trụ. Mọi thứ đề có thể diễn ra, song bản chất của vấn đề thì không bao giờ thay đổi.

Nguồn: Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa


Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2020

BẢN CHẤT THAM NHŨNG HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ

Tác giả: Tống Công Minh

Kỳ 2: Mối đe doạ của “tầng lớp đặc quyền” đối với chế độ


"Tầng lớp đặc quyền" đã được đề cập đến trong Chương V của tác phẩm "Tính trước nguy cơ - Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng" được xuất bản bởi NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật vào năm 2017. Chương V của tác phẩm này trình bày về sự tồn tại của một "tầng lớp đặc quyền" trong Đảng Cộng sản Liên Xô, và là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự giải thể của Đảng.


https://hcma3.hcma.vn/thu-vien-tu-lieu/pages/moi-tuan-mot-cuon-sach.aspx?CateID=553&ItemID=49076


1. Tính đặc quyền của nhà nước và sự hình thành các tầng lớp đặc quyền. 


Trong phần trước chúng ta đã đề cập rằng Nhà nước chuyên chính vô sản chỉ là kiểu “nửa Nhà nước”, khi mà quyền quản lý xã hội ngày càng được trao cho nhân dân nhiều hơn và sự dân chủ mở rộng nhiều hơn so với các hình thái Nhà nước trước đó. Quần chúng nhân dân trở thành những người có khả năng tự quản lý xã hội và đảm nhận các nhiệm vụ của Nhà nước, từ đó Nhà nước sẽ ngày càng thu gọn và sẽ giảm bớt các cơ quan đặc biệt gắn với một thiểu số có đặc quyền.


Vậy nếu Nhà nước ngày càng lớn và càng quan liêu thì tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành của các tầng lớp đặc quyền càng lớn trong Nhà nước, các tầng lớp đặc quyền này được biểu hiện dưới hình thức rõ ràng nhất chính là tham nhũng. Ở đây chúng ta cùng đến với một ví dụ rõ ràng nhất chính là sự mở rộng tầng lớp đặc quyền trong Liên Xô dưới thời Brêgiơnép. Sự xuất hiện của tầng lớp đặc quyền này liên quan trực tiếp đến đường lối, chính sách mà người lãnh đạo tối cao Đảng Cộng sản Liên Xô là Brêgiơnép thực hiện rộng rãi cũng như phong cách cầm quyền của cá nhân ông. (Trích Sách – Tính trước nguy cơ – Suy ngẫm sau 20 năm Đảng Cộng sản Liên Xô mất Đảng – Trang 242-245)


- Thứ nhất: thời kỳ Brêgiơnép chỉ đơn thuần theo đuổi sự ổn định của đội ngũ cán bộ. Chính chính sách này của Brêgiơnép phù hợp với tâm lý của các cán bộ. "Lãnh đạo lớn nhỏ bắt đầu thích Brêgiơnép, ông không thích thay đổi, họ cũng không muốn thay đổi, đặc biệt là không muốn điều chuyển chức vụ của họ từ cao xuống thấp". Nhiều cán bộ vì địa vị ổn định nên không có cảm giác cảnh giác, đồng thời cũng đã mất đi tinh thần trách nhiệm và cầu tiến mà một cán bộ Đảng Cộng sản cẩn có. Đối với họ, nêu đã không cần lo lắng về vấn đề chức vị của bản thân, thì cần gì phải hao tâm tổn lực theo đuổi những thành tựu trong công việc nữa ? Đồng thời, khi họ đã không có áp lực, tất nhiên sẽ buông lỏng những ràng buộc đối với bản thân, bắt đầu xa rờỉ quần chúng, theo đuổi đặc quyền không nên có. Đây chính là tâm lý cán bộ không lành mạnh do chính sách đội ngũ cán bộ đơn thuần ổn định gây nên. Sự xuất hiện đặc trưng tâm lý chính trị này trong đội ngũ cán bộ tất nhiên thúc đẩy sự hình thành tầng lớp đặc quyền.


- Thứ hai: Brêgiơnép không chỉ dốc sức ổn định đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước, mà còn không ngừng mở rộng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước. Vấn đề then chốt nhất là tư tưởng của Brêgiơnép bảo thủ, cứng nhắc, hiện tượng cơ quan Đảng và Nhà nước ngày càng phình ra, nhân viên dư thừa ngày càng nhiều, nhìn mà như không thấy, chưa từng suy nghĩ đến việc phải tiến hành cải cách đối với vấn đề này. Lênin từ lâu đã từng đưa ra kiến nghị tinh giản hệ thống các cơ quan: "Phải xóa bỏ đến mức có thể các loại ủy ban hiện có (9/10 số ủy ban này là thừa, mà đặc trung của nó là sau khi xóa bỏ xong, chẳng bao lâu lại thay hình đối dạng để phục hồi), đồng thời ngăn chặn thành lập ủy ban mới". Đương nhiên, việc mở rộng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước KHÔNG có mối liên hệ tất yếu với sự hình thành tầng lớp đặc quyền, nhưng mọi người đều biết, cán bộ Đảng và Nhà nước là nguồn gốc chủ yếu của tầng lớp đặc quyền, những người hưởng thụ và theo đuổi đặc quyền trong đội ngũ cán bộ không ngừng được mở rộng ấy cũng không ngừng tăng lên, những người đặc quyền cũng dần dần từ số ít mở rộng thành một tầng lớp xã hội. Vì thế, sự mở rộng đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước của Liên Xô trên thực tế đã tạo điều kiện tiền để quan trọng cho sự hình thành tầng lớp đặc quyền.


- Thứ ba: trong thời kỳ Brêgiơnép, cơ chế kiếm tra, giám sát trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô đối với đảng viên và cán bộ Đảng không ngừng yếu đi, cho dù tồn tại một vài quy định, cũng chỉ là hình thức. Điều này đã tạo môi trường chính trị thích hợp để cán bộ Đảng dùng quyền lực mưu cẩu tư lợi, sử dụng quyền lực của mình tùy tiện, từ đó biến thành những kẻ đặc quyền. Ngoài ra, trong thời kỳ Brêgiơnép cầm quyền, việc giáo dục tư tưởng trong Đảng cũng không ngừng bị suy yếu, thêm vào đó Đảng viên thời kỳ này ở trong môi trường hòa bình, xa rời những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và cách mạng, vì thế niềm tin, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa của nhiều Đảng viên và cán bộ Đảng ngày càng phai nhạt, thậm chí mất đi. Tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc tương đối thịnh hành trong Đảng. Trong tình hình này, một lượng lớn cán bộ đã trở thành những thành viên của tầng lớp đặc quyền mà chúng ta vừa nói.


- Thứ tư: những hành vi như theo đuổi lạc thú, lạm dụng quyền lực, tham ô hối lộ của một số lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Brêgiơnép, đã thúc đẩy sự hình thành tầng lớp đặc quyền. Có thể nói, sự theo đuổi cuộc sống đặc quyền của người lãnh đạo tối cao mà đứng đầu là Brêgiơnép đã có vai trò "tâm gương" cho sự phát triển hiện tượng tham nhũng trong Đảng. Điều này có mối quan hệ trực tiếp với sự hình thành tầng lớp đặc quyền.

Như vậy có thể thấy hiện tượng tham nhũng hiện nay về bản chất chính là do sự phát triển của tầng lớp đặc quyền trong Đảng và Nhà nước, đặc biệt Nhà nước ngày càng mở rộng với sự quan liêu của nó.


2. Các đặc điểm của tầng lớp dặc quyền và sự xâm thực của nó đối với Đảng và Nhà nước.


Như phân tích ở đoạn trên chúng ta có thể thấy sự ra đời và phát triển của tầng lớp đặc quyền trong Đảng và Nhà nước gắn liền với sự mở rộng và tách rời Nhà nước khỏi xã hội. Khi Nhà nước càng mở rộng cùng với sự quan liêu của mình thì tầng lớp đặc quyền càng trở nên đông đảo hơn trong Nhà nước. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến các đặc điểm của tầng lớp đặc quyền cụ thể như trong Hình 1 đính kèm.


Từ những đặc điểm trên, tầng lớp đặc quyền đã xâm thực đến Đảng và Nhà nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến Đảng và Nhà nước mà cụ thể như sau:


a) Tầng lớp đặc quyền gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh và uy tín của Đảng, mà trước hết:


- Nó phá vỡ lý tưởng về công bằng và bình đẳng xã hội, từ đó dẫn đến việc khiến cho người dân hoài nghi về chủ nghĩa xã hội, nghi ngờ về lý tưởng và mục đích hoạt động của Đảng.


- Sự tồn tại của tầng lớp đặc quyền đã cung cấp những tư liệu tốt nhất cho những kẻ chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa tư bản, để bôi nhọ Đảng Cộng sản, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội.

Tầng lớp đặc quyền tạo ra hố ngăn cách lớn giữa Đảng và Nhân dân, làm mất đi tính giai cấp của Đảng.


Các hành vi của tầng lớp đặc quyền xa rời quần chúng một cách nghiêm trọng, khiến dân chúng bình thường coi họ là loại người khác biệt, nhóm người trong tầng lớp đặc quyền thường bị  gọi là "chúng", “bọn”. Từ đó đã làm qụan hệ giữa Đảng với quần chúng càng ngày càng xa, hình thành hố ngăn cách lớn giữa Đảng với quần chúng. Lâu dần, trong con mắt của quần chúng nhân dân, tầng lớp đặc quyền bị đánh đồng với Đảng và Nhà nước, Đảng và Nhà nước chuyên chính vô sản không còn là đại biểu của nhân dân lao động, mà đã trở thành đại biểu của tầng lớp đặc quyền được hưởng lợi ích ở trên cao. Trong hoàn cảnh nhất định, nhiều quần chúng thậm chí trở thành người chống lại Đảng và Nhà nước. Ở đây chúng ta cần phải hiễu rõ nguồn gốc của Nhà nước chuyên chính vô sản là do cuộc cách mạng vô sản lập nên, khi quyền lực thuộc về tay giai cấp vô sản thì họ sẽ lập nên Nhà nước đại diện cho quyền lợi của chính họ là Nhà nước chuyên chính vô sản. Tuy nhiên khi tính giai cấp của Đảng và Nhà nước mất đi thì chính giai cấp vô sản sẽ không còn đứng ra bảo vệ bộ máy Nhà nước của chính họ nữa. Sự xuất hiện của tầng lớp đặc quyền trong Đảng về thực chất chính là sự xuất hiện của một giai cấp đang thống trị về mặt chính trị và tìm cách để thống trị về mặt kinh tế, còn quần chúng nhân dân và giai cấp vô sản từ chỗ xóa bỏ giai cấp sau cách mạng thì bây giờ lại trở thành giai cấp bị bóc lột và bị thống trị bởi tầng lớp đặc quyền trong Đảng. Vậy Đảng và Nhà nước chuyên chính vô sản đã không hoàn thiện nhiệm vụ trấn áp giai cấp tư sản khi được giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân trao trọng trách cho họ. Trái lại nó lại tạo ra một thế hệ giai cấp mới, giai cấp tư sản Nhà nước được hình thành và gắn liền với chính Nhà nước đó, ăn bám vào đặc quyền đặc lợi của Đảng và Nhà nước.


b) Sự tồn tại của tầng lớp đặc quyền làm tổn hại đến tác phong Đảng và không khí xã hội.


Sau khi tầng lớp đặc quyền hình thành. Những hành vi như xa rời quần chứng, lấy của công làm của riêng, tham ô hủ bại của họ rất  nhanh chóng đã hình thành, ảnh hưởng chí mạng đến tác phong trong Đảng, mặc dù Đảng Cộng sản Liên Xô có số lượng đảng viên rất lớn, nhưng trong số đó những người thực sự tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, nguyện làm công bộc của nhân dân lại càng ngày càng ít. Thời kỳ Brêgiơnép công tác phát triển đảng được tiến hành một cách ồ ạt, nhưng rất nhiều người muốn vào Đảng với động cơ không trong sáng. Như vậy, dưới ảnh hưởng của tầng lớp đặc quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô thời kỳ này đã dần dần trở thành một chính đảng xa rời quần chúng. Tác phong bất chính của tầng lớp đặc quyền trong Đảng không chỉ gây ô nhiễm toàn Đảng, mà còn gây ô nhiễm toàn xã hội, làm cho tham ô hủ bại, đút lót, nhận hối lộ trở thành trào lưu thịnh hành trong xã hội, một số quần chúng thâl vọng cũng đành trôi theo dòng nước, tạo nên tình trạng trên làm sao, dưới làm vậy, không khí xã hội ngày càng sa sút. Do sự băng hoại của nề nếp xã hội, tỷ lệ phạm tội của Liên Xô liên tục tăng, nhiều người coi việc giành được của cải, tài sản là mục đích duy nhất, mà không để ý đến tính hợp pháp và phi pháp của thủ đoạn. Dựa theo số liệu thống kê, trong 10 năm từ (1973-1983), tổng số vụ phạm tội xuất hiện hằng năm của Liên Xô tăng gần 2 lần, trong đó, phạm tội bạo lực quan trọng của cá nhân tăng 58%, cướp giật tăng 2 lần, còn các vụ án liên quan đến trộm cướp và hối lộ tăng 3 lần. Điều này chứng tỏ rằng, hiện tượng nhận hôi lộ liên quan trực tiếp với tầng lớp đặc quyền ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng dùng vũ lực để giành lấy tài sản, của cải cũng ngày càng nghiêm trọng.


c) Tầng lớp đặc quyền ngăn cản và lợi dụng cải cách


Thông thường, bản thân đặc quyền chính là một chất ăn mòn, nó khiến cho những kẻ có đặc quyền chỉ say sưa hưởng thụ, hài lòng với hiện trạng mà không suy tính đến tiến bộ và cải cách. Mà khi công cuộc cải cách được triển khai, tầng lớp đặc quyền lại lợi dụng cải cách, bóp méo cải cách, âm mưu lợi dụng cải cách chiếm đoạt tài sản quốc gia. Chính vì tầng lớp đặc quyền chỉ sợ mất đi đặc quyền của bản thân nên họ đã ra sức cản trở cải cách hoặc lợi dụng cải cách, làm cho việc hoàn thiện, cải cách chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành triều đại đẩy mạnh tư hữu hóa thỏa mãn những dục vọng cá nhân, từ đó thay đổi và hủy diệt chế độ xã hội chủ nghĩa. Nêu phát triển theo lộ trình "thể chế kinh tế mới" của Côxưgin, kết quả lôgích của nó sẽ là phương thức mệnh lệnh hành chính thoát khỏi đời sống kinh tế, điều này tất nhiên là điều mà tầng lớp đặc quyền quan liêu không muốn nhìn thấy. Vì thế, cơ quan quản lý kinh tế của Đảng Cộng sản Liên Xô "ngày càng phản đối tiến hành bất kỳ cải cách cơ cấu nào. Những cơ quan quan liêu này bề ngoài ủng hộ nhưng bên trong lại phản đổi cải cách, quản lý có hạn của Brêgiơnép và Côxưgin được thông qua năm 1965, không chịu quán triệt, suốt cả thập niên 1970 cho đến đầu thập niên 1980, họ luôn áp dụng sách lược đổi đầu tiêu cực này" . Mục đích của những kẻ đặc quyền này chính là giữ nguyên vẹn thể chế mệnh lệnh hành chính, từ đó bảo vệ đặc quyền và lợi ích vốn có của bản thân mình. "Lực lượng quan liêu bảo thủ không chịu từ bỏ phương thức lãnh đạo bằng mệnh lệnh hành chính, họ từng bước, từng bước cản trở thực hiện cải cách kinh tế". Dưới sự cản trở của tầng lớp đặc quyền quan liêu, cải cách "thể chế kinh tế mới" của Côxưgin cuối cùng đã kết thúc trong thất bại.

Nguồn: https://www.facebook.com/112827646815271/posts/316528936445140/

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

BẢN CHẤT THAM NHŨNG HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ

Các độc giả thân mến.


Gần đây chúng ta có thể nhận thấy Đảng và Nhà nước đang tiến hành cuộc đấu tranh tham nhũng vô cùng quyết liệt với hàng loạt các vụ tham nhũng trọng điểm đã được đưa ra xét xử và những cá nhân “nhúng chàm” đều bị xử lý kỷ luật, bắt giam và khởi tố. Tham nhũng được ví như “quốc nạn”, như “giặc nội xâm”, và nạn tham nhũng cùng tệ quan liêu được Đảng chỉ ra là một trong “bốn nguy cơ” cùng với tụt hậu kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, và diễn biến hoà bình. Sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong công tác chống tham nhũng, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ to lớn của dư luận. Chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh vô cùng lâu dài và quyết liệt, và cũng là cuộc đấu tranh có tầm quan trọng mật thiết đối với Đảng và Nhà nước bởi vì nó liên quan đến sự tồn vong của chế độ.


Vì vậy trong status này, Đồng Minh Những Người Cộng Sản mạn phép đăng bài viết của bạn đọc Tống Công Minh phân tích về bản chất giai cấp của nạn tham nhũng thời kì hiện đại cùng các nguy cơ đe doạ đến quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc chiến chống tham nhũng cũng như mối hiểm hoạ vô cùng to lớn của nạn tham nhũng đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Vì bài viết rất dài, chúng tôi mạn phép chia bài viết thành 4 kỳ để đăng dần và có một số tuỳ chỉnh về câu chữ, lời lẽ so với bản gốc. Những thay đổi nhỏ này đã được sự đồng ý của tác giả Tống Công Minh. Xin cảm ơn sự đóng góp to lớn của các bạn đọc.


Kỳ 1: Định nghĩa về tham nhũng. Bản chất của Nhà nước và vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản

Kỳ 2: Mối đe doạ của “tầng lớp đặc quyền” đối với chế độ

Kỳ 3: Các loại hình tham nhũng và bản chất giai cấp của tham nhũng

Kỳ 4: Các vi phạm về kỷ luật Đảng có liên quan đến tham nhũng. Phát huy tập trung dân chủ trong Đảng là cần thiết để phòng chống tham nhũng.


===o0o===


Kỳ 1: Định nghĩa về tham nhũng. Bản chất của Nhà nước và vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản


Theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là “hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.” “Nhũng nhiễu” là hành vi “cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. “Vụ lợi” là “lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng”.

Các hành vi tham nhũng bao gồm “Tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi, giả mạo trong công tác vì vụ lợi, đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi, nhũng nhiễu vì vụ lợi, không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.”


Như vậy, tham nhũng chính là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn và nhiệm vụ được giao để trục lợi riêng. Tuy nhiên, tham nhũng thời hiện đại có sự khác biệt to lớn so với tham nhũng thời phong kiến, hay đối với cách hiểu nôm na thường thấy của dư luận về tham nhũng. Tham nhũng thời phong kiến là việc các quan chức trong bộ máy nhà nước vơ vét tài sản để làm giàu bất chính và có cuộc sống xa hoa. Cuộc chiến tham nhũng trong chế độ phong kiến về bản chất là để gia đình, dòng họ của vua có thể giữ được quyền lực hoàng tộc của bản thân mình, và để cũng như đảm bảo cho địa vị và quyền lực của Nhà nước phong kiến. Ví dụ như ngăn chặn sự thất thoát của cải, thuế má, ngân sách của nhà nước vào túi riêng của một số quan chức hay địa chủ, nhà giàu cá thể, và cũng để xoa dịu sự bất mãn của quần chúng đối với quan chức phong kiến. Những cuộc khởi nghĩa nông dân chỉ làm thay đổi các vương triều phong kiến, vương triều mới lên thay thế sẽ nương nhẹ chính sách thuế khoá, trừng phạt quan tham ô lại để đảm bảo cho cuộc sống của người dân và quyền lực nhà nước, còn bản chất chế độ chính trị phong kiến vẫn không hề thay đổi.


Còn tham nhũng trong bối cảnh hiện nay không chỉ làm suy yếu Đảng và Nhà nước mà về bản chất tham nhũng còn chính là cuộc đấu tranh giai cấp ở trong Đảng và Nhà nước, cụ thể là cuộc đấu tranh giữa một bên là giai cấp tư sản lớn mạnh về kinh tế và mong muốn áp đặt quyền lực nhà nước lên xã hội, bên kia giai cấp vô sản ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền chuyên chính vô sản. Để hiểu rõ điều đó, phần đầu tiên của bài viết này sẽ bàn sơ qua một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác Lênin về bản chất của nhà nước và vai trò của nhà nước chuyên chính vô sản.


Bản chất của Nhà nước.


1. Bản chất và sự ra đời của Nhà nước.


Khi nói về bản chất Nhà nước, Lênin trong tác phẩm Nhà nước và Cách mạng đã đưa ra khái niệm của Nhà nước theo lý luận của Mác và Ăngghen như sau: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mẫu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được.” (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 9 – NXB Chính trị quốc gia) Từ khái niệm trên của Lênin chúng ta có thể rút ra hai kết luận cơ bản của Nhà nước đó là:


- Nhà nước chỉ xuất hiện trong những điều kiện lịch sử cụ thể của một xã hội nhất định mà cụ thể ở đây là sản phẩm của xã hội có giai cấp.

- Sự tồn tại của Nhà nước chứng tỏ rằng do những mâu thuẫn giai cấp ở trong xã hội đó không thể điều hòa được nhưng Nhà nước lại không xuất hiện dưới vai trò là cơ quan điều hòa mâu thuẫn giai cấp ở trong xã hội.


Theo Lênin, Ăngghen đã phát triển khái niệm nhà nước như sau: “phát triển khái niệm về cái ʺlực lượngʺ gọi là nhà nước ấy, lực lượng nảy sinh từ xã hội, nhưng lại tự đặt mình lên trên xã hội và ngày càng trở nên xa lạ với xã hội. Lực lượng ấy chủ yếu là gì? Là những đội vũ trang đặc biệt, trong tay có những nhà tù, v.v.” (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 12 – NXB Chính trị quốc gia) 


Như vậy có thể thấy Nhà nước có hai đặc điểm chính:


(i) Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội nhưng lại đặt mình lên trên xã hội và ngày càng trở nên xa lạ với xã hội.

(ii) Lực lượng chủ yếu của Nhà nước chính là những đội vũ trang đặc biệt và trong tay có những nhà tù.


Từ các đặc điểm của Nhà nước, lý luận Mác Lênin đã đi đến kết luận về vai trò của Nhà nước là: "Vì nhà nước xuất hiện từ sự cần thiết phải kiềm chế sự đối lập giữa các giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng xuất hiện chính trong những cuộc xung đột giữa các giai cấp ấy, cho nên theo quy luật chung, nó là nhà nước của giai cấp mạnh nhất, giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế, và nhờ có nhà nước, giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để trấn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức." (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 16 – NXB Chính trị quốc gia) 


Từ kết luận Ăngghen đã được Lênin tổng kết lại, ta có thể thấy vai trò của Nhà nước chính là công cụ để trấn áp giai cấp và là đại diện cho giai cấp mạnh nhất giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế để giai cấp này trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị.


2. Vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản.


Khi phân tích lý luận của Ăngghen về Nhà nước, Lênin đã chỉ ra những đặc điểm chính của Nhà nước chuyên chính vô sản như sau:


Thứ nhất: Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến những tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu của nhà nước. Nhưng như vậy, giai cấp vô sản cũng tự thủ tiêu mình với tính cách là giai cấp vô sản, thủ tiêu hết thảy mọi sự khác biệt giai cấp và mọi sự đối lập giai cấp, đồng thời thủ tiêu cả nhà nước với tính cách là nhà nước. (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 20 – NXB Chính trị quốc gia) 

 

Thứ hai: Nhà nước là một ʺlực lượng đặc biệt để trấn ápʺ. Định nghĩa tài tình và cực kỳ sâu sắc ấy của Ăng‐ghen được nêu ra ở đây hết sức rõ. Từ định nghĩa đó rút ra kết luận là ʺlực lượng đặc biệt để trấn ápʺ ấy của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản, của một nhóm người giàu có đối với hàng triệu người lao động, phải được thay thế bằng một ʺlực lượng đặc biệt để trấn ápʺ của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản (chuyên chính vô sản). (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 23 – NXB Chính trị quốc gia) 


Như vậy có thể thấy Nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước của giai cấp vô sản được dựng lên thay thế cho Nhà nước tư sản thông qua một cuộc bạo lực cách mạng. Khi thành lập Nhà nước chuyên chính vô sản thì giai cấp vô sản cũng thực hiện biến những tư liệu sản xuất trước hết trở thành sở hữu Nhà nước, trước khi thực hiện công hữu tư liệu sản xuất. Đồng thời vai trò của Nhà nước chuyên chính cũng là bộ máy trấn áp của giai cấp vô sản trước nỗ lực vươn lên trở thành địa vị thống trị về mặt chính trị của giai cấp tư sản trong thời kỳ quá độ.


Và trong thời kỳ quá độ, Nhà nước chuyên chính vô sản cũng nắm giữ một lượng tư liệu sản xuất khổng lồ dưới hình thức sở hữu Nhà nước hoặc Nhà nước đại diện quản lý để làm bước đệm cho việc công hữu tư liệu sản xuất cho các Xô viết trong quá trình phát triển. Đây là sự thống trị về mặt kinh tế của giai cấp vô sản dưới hình thức nắm giữ những tư liệu sản xuất quan trọng nhất mà cụ thể là: đất đai và hệ thống các tập đoàn nhà nước.


Trước khi phân tích về tính đặc quyền của Nhà nước, chúng ta hãy đến với một lý giải của Lênin về đặc quyền nhà nước và việc trao quyền quản lý nhà nước vào tay nhân dân:


“Nhưng ở đây, bộ máy trấn áp là đa số dân chúng, chứ không phải là thiểu số như đã có từ trước tới nay dưới chế độ nô lệ, chế độ nông nô và chế độ nô lệ làm thuê. Mà một khi chính đa số nhân dân đã tự mình trấn áp những kẻ áp bức mình, thì không còn cần phải có một ʺlực lượng đặc biệtʺ để trấn áp nữa! Theo nghĩa đó, nhà nước bắt đầu tiêu vong. Đa số nhân dân tự mình có thể trực tiếp hoàn thành những nhiệm vụ ấy, chứ không cần đến những cơ quan đặc biệt của một thiểu số có đặc quyền (các viên chức có đặc quyền, các viên chỉ huy quân đội thường trực), và những chức năng của chính quyền nhà nước càng do toàn dân làm lấy, thì chính quyền đó lại càng trở nên ít cần thiết hơn.” (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 52-53 – NXB Chính trị quốc gia) 


Lênin đã cho chúng ta thấy vai trò của chuyên chính vô sản đó là trao càng nhiều quyền lực vào trong tay nhân dân càng tốt, phải biến nhân dân thành những người có khả năng tự quản lý xã hội và đảm nhận các nhiệm vụ của Nhà nước, từ đó Nhà nước sẽ ngày càng thu gọn và sẽ giảm bớt các cơ quan đặc biệt gắn với một thiểu số có đặc quyền. Điều đó cũng có nghĩa rằng, còn tồn tại một nhà nước càng lớn thì chắc chắn càng sẽ tạo nên những thiểu số đặc quyền trong Nhà nước. Thiểu số này sẽ lợi dụng các quyền lực của Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng cho mình và dần dần trở thành giai cấp thống trị. Điều đó càng khẳng định rằng, Nhà nước chuyên chính vô sản chỉ là kiểu “nửa Nhà nước”, khi mà quyền quản lý xã hội ngày càng được trao cho nhân dân nhiều hơn và sự dân chủ mở rộng nhiều hơn so với các hình thái Nhà nước trước đó. Nhân dân ở đây theo Lênin chính là giai cấp công – nông, và như vậy các lực lượng vũ trang, trấn áp đặc biệt sẽ ngày càng bị thay thế bởi chính sự vũ trang cho nhân dân.

Nguồn: https://www.facebook.com/112827646815271/posts/315145759916791/

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

TRIẾT LÝ DẠY VÀ HỌC VĂN CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC


M.Gorky, đại thi hào người Nga từng nhận xét: "Văn học là nhân học".


Theo tôi trên đời này, ngoài phụ nữ ra, thì còn có hai điều rất khó hiểu và khó hiểu đúng, đó là tình yêu và văn chương. Có ai dám nói rằng mình hiểu tình yêu và cũng có ai dám nói rằng mình định nghĩa được văn chương chứ? 


Nhưng dẫu khó hiểu thì cũng vẫn nên cố mà hiểu, mà muốn hiểu phải học. Học văn, cần lưu ý tới 2 điểm: Học cách cảm nhận văn học và rèn luyện tư duy sáng tạo văn học.


Cảm nhận văn học, tức chúng ta học văn là để nhận thức đúng đắn hơn về cuộc sống và con người thông qua các tác phẩm văn học của người khác. Bản chất của cuộc sống cũng là bản chất của con người, thế nên "văn học mới là nhân học". Cảm nhận văn học để chúng ta nhìn nhận đúng về quan điểm của người khác, tìm hiểu hơi thở cuộc sống, triết lý nhân sinh quan của họ qua từng câu chữ.


Tư duy văn học là tư duy sáng tạo, là học cách làm văn. Đó là chúng ta học cách diễn đạt, trình bầy suy nghĩ và cảm nhận của mình một cách thật rành mạch, rõ ràng giúp người khác có thể hiểu được bản thân. Từ đó qua văn chương của bản thân có thể lan tỏa thông điệp, quan điểm của mình ra tới thế giới.


Chỉ có điều đáng tiếc, cách dạy và học văn ở Việt Nam đi quá sâu tới học cách cảm nhận văn và nhân sinh của người khác mà không chú trọng đến việc rèn luyện và thể hiện quan điểm, tư duy của học sinh.


Không tin ư? Các bạn nhìn vào đề văn hàng chục năm nay trong kì thi THPT quốc gia mà xem. Đôi lúc có thay đổi chút, nhưng phần lớn vẫn là phân tích nghệ thuật dùng từ, hàm ý của tác giả. Nghị luận xã hội một quan điểm hay triết lý và liên hệ xã hội. Rồi cuối cùng là phân tích và bình luận văn học về một vài tác phẩm ở SGK văn.


Quan trọng, và nguy hại lớn nhất, đó là việc bài văn 5 điểm nó lặp đi lặp lại trong cỡ 20 tác phẩm văn học kinh điển trong chương trình học. Thế là nhiều em học sinh, nhiều thày cô giáo, nhiều trung tâm luyện thi "đoán đề" và dạy học trò "học tủ". Và buồn cười hơn, đó là chấm điểm văn về "cảm thụ văn học" lại có barem. Thế là học văn là chỉ học cách rèn luyện để hiểu về tư tưởng, hàm ý của những tác giả khác ư? Vậy khát vọng thể hiện quan điểm, suy nghĩ và nhân sinh quan của học sinh đâu? Sáng tạo văn học, cái "muôn mầu cuộc sống" nó ở đâu?


Suốt bao năm làm văn, học sinh Việt Nam thường quá  quen với mẫu đề, kiểu: Em hãy tả/phát biểu/phân tích cảm nhận của mình về cái gì đó. Thế nhưng, nếu em học sinh nào ngu dại phát biểu đúng suy nghĩ của mình về vấn đề, nhưng nó khác với ý của cô giáo, kết quả thường không mấy khả quan cho lắm.


Đôi lúc, cách dạy và học văn của Việt Nam, khiến nhiều em học sinh suy nghĩ rằng muốn được điểm cao phải viết thật dài. Kiểu như muốn được 9-10 thì bài văn phải 5-7 tờ, đám viết cố lắm mà chỉ được 2-3 tờ thì không mơ tưởng điểm cao.


Buồn!


Văn học không phải dạy các em thành những con vẹt hay những cái máy. Văn học là nhân học, không phải là môn học thuộc. Văn học là dạy học sinh về tư duy dáng tạo, không phải tư duy lối mòn.


Không biết thời của các bạn như thế nào, chứ thời của chúng tôi kiểu như thế đấy. Tức là, rất nhiều giáo viên văn có xu hướng biến học sinh thành những con vẹt trong việc học – làm văn khi ép chúng nó phải làm văn theo ý cho sẵn. Nguyên nhân, đó chính là ngay cả bản thân nhiều thầy cô giáo cũng đang yếu kém về tư duy văn học!


Vâng, đấy là nhận định chủ quan của tôi. Nguyên nhân của vấn đề này do đâu ạ? Xin thưa, đó chính là quan điểm học theo khối rất máy móc còn tồn tại ở Việt Nam. Nhiều học sinh có quan điểm thế này, nếu mải chơi mất gốc kiến thức Toán, Lý, Hóa không thể vào khối A được thì đành phải vào khối C, và mặc định đó là những môn học thuộc. Tư duy sai lầm, dẫn đến có không ít nhà báo năm xưa cũng từng đậu đại học kiểu 9 điểm 3 môn như thế.  Họ thiếu kiến thức về tư duy logic, lại chạy theo tư duy lối mòn, dẫn đến truyền thông báo chí Việt Nam nhiều khi đúng nghĩa là 'truyền thông xứ Vẹt'.


Hay khi vào đại học, có không ít người "ngẫu nhiên đậu sư phạm văn sử" bằng cách  gồng mình lên học thuộc lòng một vài đề  tủ nào đó, nếu trúng tủ thì đậu thôi. Và những thầy cô này ra trường, lại dạy học trò học văn, sử theo kiểu học vẹt như thế. Nó rất dễ dẫn tới một vòng lặp đáng buồn, thay vì học văn để rèn tư duy sáng tạo, các em học sinh dần bước vào tư duy lối mòn, cứ rập khuôn máy móc.


(Học sinh nào may mắn, được học với thầy cô dạy văn "có tâm và có tầm" thì sẽ thực sự may mắn. Đáng tiếc, số lượng những nhà giáo như này rất ít, vì xuất phát điểm của nguồn đầu vào tuyển "giáo viên văn" là không được cao.


Nói ra hẳn nhiều bạn sư phạm Văn tự ái, cơ mà những em học sinh có tư duy tốt họ thường chọn Ngoại thương, Bách Khoa, Kinh tế hết rồi)


Nhìn sang Trung Quốc mà thấy buồn, ngay cả cách ra đề văn thôi đã thấy hơn hẳn Việt Nam mình một cái tầm. Đây không phải là tự nhục, mà sự thật,  môn văn ở Trung Quốc thực sự là một môn học đầy tính nghệ thuật và sáng tạo, mang  âm hưởng đậm nét của văn hóa Hoa Hạ.


Đề văn Trung Quốc nhiều khi yêu cầu các em đưa ra quan điểm suy nghĩ của mình về một bài thơ Đường cách đấy hơn ngàn năm, đôi lúc là của một tác giả vô danh. Mà phần lớn học sinh mới chỉ đọc nó lần đầu.


Lấy ví dụ, đề thi văn của Bắc Kinh năm 2007, yêu cầu học sinh đưa ra quan điểm bản thân về 2 câu thơ: "Tế vũ thấp y khan bất kiến. Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh" (tạm dịch: Mưa mong manh thấm áo nhìn không tỏ. Hoa rụng đất nhẹ nhàng nghe không thấu) là câu thơ trích trong bài Biệt nghiêm sĩ Nguyên (tạm dịch: Tặng nghiêm sĩ Nguyên khi từ biệt) của nhà thơ đời Đường Lý Trường Khanh. Rõ ràng, đây là bài thơ khá vô danh của một tác giả không tiếng tăm gì, trong một rừng thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ. Những người học tủ học vẹt mà không đủ tư duy, kiến thức chắc chắn sẽ chấp nhận cảnh giấy trắng.


Hay đề văn của tỉnh Giang Tô 2019, yêu cầu học sinh tự lựa chọn thể loại văn để thể hiện quan điểm của mình về nhận định triết lý: 


"Mỗi vật đều có 1 tính, nước thì nhạt, muối thì mặn. Nước thêm nước vẫn là nước, muối thêm muối vẫn là muối. Chua ngọt cay nhạt mặn, năm vị điều hoà, cùng tồn tại hoà trộn tạo ra trăm ngàn vị khác. Vật đã thế, sự việc cũng thế, con người càng thế."


Với những đề bài mở như ở Trung Quốc, để  làm được bài buộc thí sinh phải có vốn kiến thức xã hội phong phú, tức là trước đó buộc các em phải chịu khó tìm đọc nhiều tài liệu liên quan để đọc và nắm những nội dung mấu chốt ngoài sách giáo khoa. Bên cạnh đó, các em sẽ tự tìm cho mình cách phân tích, bình luận, liên hệ để hiểu sâu hơn một vấn đề nào đó… Có nền tảng vững vàng, có kiến thức xã hội liên quan, lồng ghép thêm cái nhìn của cá nhân nhân trước thời cuộc, như thế mới có thể làm tốt được bài văn dạng đấy. Như thế, văn mới thực sự là môn xã hội, giúp các em rèn luyện tư duy sáng tạo.  


Để làm được điều này, học sinh Trung Quốc từ nhỏ đã được dạy rằng "văn học là nhân học", học văn là để chiêm nghiệm nhân sinh và thể hiện nhân sinh. Để viết được văn hay, các em đều hiểu rằng mình cần tích lũy kiến thức, để trong văn học có văn hóa, có lịch sử, và có cả triết học.


Các em từ nhỏ đã được học cách hệ thống văn học, viết thế nào cho hào hùng, viết thế nào cho bi thiết. Khi cần lạc quan tuyệt không u ám, khi muốn buồn bã  thì tràn ngập thê lương... để tác dụng mạnh lên cảm xúc người đọc. Các em học về văn bát cổ, thơ Đường luật, thủ thuật viết văn biền ngẫu, lồng ghép "tiểu đối", "trường đoạn" thế nào cho lời văn hoặc cổ kính trang nghiêm, hoặc dào dạt hào trẻ trung, hoặc hào hùng phấn chấn.


Ở Việt Nam thì ngược lại. Ví dụ ở cấp 1, có những bài văn tường thật tả cảnh, tả vật … thì đáng nhẽ hãy để học sinh viết bằng sự cảm nhận ngây thơ của chính các em, đó mới là sự thú vị của văn học. Nhưng không, nó luôn bắt đầu bằng những dạng bài máy móc, rập khuôn theo văn mẫu và theo ý các thầy cô. Ví dụ con lợn thì phải ủn ỉn, hai tai phải như 2 cái lá cây, cái đuôi phải phe phẩy, cái chân cái đầu to bằng cái gì và nó có ích như thế nào. Con chó thì nhất định phải kêu gâu gâu chứ không được ẳng ẳng, nó cũng nhất thiết phải là người bạn thân thiết của gia đình, chứ không được là một con chó dữ giật xích ra cắn ai đó. Đấy, cứ bắt trẻ rập khuôn sáo mòn như thế, không có gì khó hiểu khi có đứa học trò nó tả ông nội như sau: Nhà em có nuôi một ông nội rất ngoan và nghe lời.


Hay như đến cấp 2 rồi, học văn tả cảnh tả tình thì mùa thu phải vàng, ta phải buồn man mác, hoặc có thêm ít mưa ngâu với lá rụng, thêm vài từ tượng thanh tượng hình nữa thì rất dễ được điểm cao. Hoặc khi bình luận phân tích về một sự vật/hiện tượng/đoạn trích nào đấy, chỉ cần viết đủ mấy ý mà đáp án của cô nghiễm nhiên là được 7 rồi. Còn ai mà biết thêm thắt chút hoa lá cành, viết dài dài, chữ đẹp đẹp ắt kiếm 8-9 dễ như trở bàn tay. Ngược lại, đứa nào viết không đủ ý thì sẽ ăn ngay 4-5, hoặc chệch khỏi ý đáp án thì sẽ được 2 điểm kèm theo lời phê: Lạc đề, hoặc em không hiểu ý tác giả.


Sang cấp 3, đến  tiết mục ôn thi đại học, vẫn có không ít thầy cô luyện thi môn văn có tiếng trên MXH cũng đang áp dụng kiểu máy móc như thế này. Tác phẩm này ra đời hoàn cảnh nào, ý tác giả muốn truyền tải cái gì, điểm nhấn then chốt là sao … toàn những nội dung cũ kỹ và sáo rỗng.


Nhưng không trách được, ra đề như nào và cách chấm ra sao thì các em phải làm và học theo như thế. Thiết nghĩ, nếu không đổi mới phần gốc trong cách học và giảng dạy môn văn ở nhà trường, việc ra một đề thi thật sự hay để học sinh có thể phát huy khả năng sáng tạo và cảm nhận văn chương của các em là một nan đề. Ra rồi ai sẽ làm được đây, và ngay cả nhiều thầy cô chắc cũng không đủ kiến thức chấm nổi bài làm kiểu đó.


Để tạo được sự yêu thích học văn cho các em quả là điều không đơn giản nhưng trước hết, chính thầy cô đứng trên bục giảng phải là người có đủ tư duy văn học và biết truyền lửa. Niềm say mê của thầy cô trước những áng văn hay, những thân phận thăng trầm của đời sống sẽ truyền cảm hứng tích cực tới các thế hệ học trò. 


Nhưng không, rất nhiều thầy cô dạy văn ở Việt Nam đang làm ngược lại. Họ đang hướng học trò của mình học văn theo kiểu máy móc, lối mòn với vài ba ý định sẵn, khi triển khai thành bài mẫu, chỉ thêm vào những câu, những từ cho trơn tru, bay bổng chứ không có một chút gì gọi là sự sáng tạo hay sự cảm thụ riêng của học sinh. Mục đích của học môn văn, đó là rèn khả năng tư duy bay bổng, khám phá nội hàm của văn chương, tìm hiểu vẻ đẹp cuộc sống thì chả có mấy thầy cô nào chịu dạy học trò.


Và thế là, thay vì là một môn học hấp dẫn và thị vị như cái tên của nó, thì môn văn dễ trở thành môn buồn ngủ, là nơi dạy các em thành những con vẹt chỉ biết lặp lại ý của tiền nhân.  Thế là khi các em học sinh  nghĩ đến những bài văn dài dằng dặc phải đọc rồi học thuộc là ngán ngẩm lắc đầu, hoặc để thi đại học thì cắm đầu cắm cổ ê a học tủ.  


Kết quả của tư duy "làm theo văn mẫu" còn không ít hậu quả tai hại. Tất cả là bắt nguồn từ sai lầm của một triết lý giáo dục trong việc dạy và học môn văn ở Việt Nam. 


Học văn không phải để rèn luyện tư duy sáng tạo, học văn là để học sinh dẫm lên tư duy lối mòn. Dạy văn  không hướng học trò tới nhân văn, không truyền tải được hơi thở cuộc sống, mà là đang lặp lại những tiếng vọng từ quá khứ. 


Hy vọng thời gian tới nền giáo dục nước nhà có chuyển biến, thay đổi trong "triết lý dạy và học văn ở Việt Nam".

Nguồn: https://www.facebook.com/421585147894810/posts/2912273998825900/

SỰ DỐI TRÁ ĐẾN ĐÊ TIỆN CỦA ĐẾ QUỐC MỸ


Lịch sử nước Mỹ được giảng dạy tại các trường học và các đại học Mỹ, thông thường được bắt đầu với chuyến đi thám hiểm đến châu Mỹ của C.Columbus năm 1492. Trong cuốn lịch sử ấy, C.Columbus được mô tả như một người anh hùng lẫy lừng vì đã “phát hiện ra châu Mỹ”. Từ năm 1792, ngày 12/10 được gọi là ngày Colombus, một ngày kỷ niệm lớn.


Tuy nhiên, châu Mỹ đã và luôn tồn tại trước khi bị Columbus tìm ra (là bị chứ không phải là được Columbus tìm ra). Ông ta tuy là một nhà khám phá, song lại vừa là một kẻ đàn áp mang chủ nghĩa thực dân và nô lệ đến nơi đây, mở đầu cho quá trình diệt chủng người thổ dân bản địa.


Vì sao ư? Sau sự kiện Colombus năm 1492, những kẻ thực dân xâm lược từ châu Âu tràn sang Tân thế giới  với 3 động cơ chính - Của cải, Vinh quang và Truyền bá Thiên Chúa giáo - gọi tắt là 3G: Gold, Glory & God.  Và ngay cả như “người hùng” Columbus cũng thể hiện sự tàn ác của mình khi xem sinh mạng người bản xứ như cỏ rác trong mảnh đất ông ta cai trị (Columbus đã từng ra lệnh chặt đầu hàng trăm thổ dân chống đối). Từ đó, người da đỏ đã chứng kiến một cuộc diệt chủng tàn bạo, dẫn đến hàng trăm triệu thổ dân thiệt mạng dần. Và đến ngày nay, chỉ có một số ít người thổ dân là còn tồn tại, sống trong cảnh bần cùng, đói nghèo và thất học.


Phải, người da đỏ chưa bị tuyệt chủng, nhưng sự biến mất hoàn toàn của các bộ tộc là hậu quả của cuộc diệt chủng tàn nhẫn trong quá khứ và thái độ kì thị của người da trắng duy trì cho đến ngày nay ở nước Mỹ của tự do dân chủ.


Ngày 04/07/1776, “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” chính thức được thành lập qua bản Tuyên ngôn Độc lập lừng lẫy trên cơ sở các ý tưởng khai sáng của chủ nghĩa tự do, tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ, và “ai cũng có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.” 


Tuy nhiên, nội dung của bản tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ lại mở màn cho truyền thống dối trá và đê tiện của người Mỹ.  Nực cười nhất, những kẻ xâm lược tàn ác lại khoác lên cho mình bộ mặt đạo đức giả với cái danh hào “khai hóa văn minh”, “tiêu diệt cái ác” và “bảo vệ công lý”.


1. Người Mỹ muốn khai hóa văn minh nên đã diệt chủng người thổ dân da đỏ. Truyền thông: Người da đỏ mọi rợ.


Sau khi vượt qua cuộc nội chiến, người Mỹ da trắng muốn chiếm lấy những mảnh đất màu mỡ nên bắt đầu tô vẽ và truyền bá rằng người thổ dân là “loài mọi rợ ăn thịt người”. Vậy là từ đó đến nay, bằng cách này hay cách khác, người Mỹ tìm cách tiêu diệt hết người bản xứ.


Theo David Stannard trong tác phẩm tựa đề Tàn sát ở Mỹ thì cho rằng cuộc càn quét sát hại người bản địa qua nhiều chiến dịch của người châu Âu và các thế hệ sau (ý muốn nhấn mạnh người  Mỹ da trắng mà quân đội của họ là trung tâm) là một hành động diệt chủng khổng lồ nhất trong lịch sử nhân loại. Trong những cuộc chiến tranh này, quân đội Mỹ đã thực hiện nhiều cuộc tàn sát mà điển hình là cuộc tàn sát tại Wounded Knee, người Mỹ trắng đã sát hại khoảng 45.000 người da đỏ trong đó có nhiều đàn bà và trẻ em. Theo ước tính người da đỏ có vào khoảng 15 triệu khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 200 ngàn vào năm 1890 và cho đến ngày nay không biết còn lại bao nhiêu.


Thế nhưng nực cười và đê tiện, khi người Mỹ đã khoác cho mình danh hào: Khai hóa văn minh để ngụy biện cho tội ác diệt chủng.


Sau hơn 240 năm lập quốc, thống kê cho thấy đã có 1 tỷ 400 triệu người vô tội đã bị chết bởi cái gọi là các giá trị của Tự do dân chủ Mỹ.


Thật ghê tởm!


2. Người Mỹ là anh hùng chuyên tiêu diệt cái ác bằng cách thảm sát người vô tội. Truyền thông: Ném bom vì hòa bình.


Thông điệp này được thể hiện rõ ràng nhất trong thế chiến thứ II. Không thể phủ nhận rằng Nhật Bản thuộc về phe phát xít trong thế chiến, nhưng những gì người Mỹ đã làm còn kinh khủng hơn thế nhiều. Man rợ hơn tất cả những gì phát xít từng làm.


Dân thường tay không tấc sắt, không bao giờ nằm trong danh sách kẻ thù. Thế mà trong trận Okinawa, người ta ước tính có ít nhất 12 ngàn phụ nữ Nhật bị lính Mỹ cưỡng hiếp và sát hại trong một chiến dịch kéo dài 3 tháng này. Thậm chí, chỉ trong 1 ngày đã có tới 2000 dân thường – xin nhấn mạnh là dân thường trong ngôi làng ở Katsuyama bị lính Mỹ giết và cưỡng hiếp.


Thế nhưng, nó vẫn chưa là gì so với việc sử dụng vũ khí hạt nhân để sát hại dân thường Nhật Bản, buộc nước Nhật phải sớm đầu hàng vô điều kiện sau khi đội quan Quan Đông bị Nga đánh cho tan tác. Đáng chú ý, trước đó Mỹ còn rải hàng triệu tờ truyền đơn nhân đạo cảnh cáo về cuộc tấn công bằng vũ khí siêu cường.  Thế rồi sau đó 1 ngày, theo lệnh của Tổng thống Harry Truman, ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. 


Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó, số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân.  Và hàng triệu người khác đã chết sau đó không lâu vì sức tàn phá và ảnh hưởng khủng khiếp của phóng xạ, thậm chí cho đến ngày nay người Nhật vẫn không thể khắc phục hoàn toàn.


Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, đã có những vụ thảm sát kinh hoàng của quân đội Mỹ với người dân Triều Tiên, trong đó có vụ Thảm sát No Gun Ri (No Gun Ri Massacre) từng gây chấn động dư luận và bàng hoàng cả thế giới. Cũng trong thời gian này quân đội Mỹ đã sử dụng vũ khí sinh học bằng cách thả côn trùng gây bệnh cho người và lúa ở vùng quân đội Trung Quốc và Bắc Triều Tiên kiểm soát.


Và dĩ nhiên rồi, trong cuộc chiến tranh Việt Nam, chính cha anh của chúng ta từng là nạn nhân của loài ác quỷ đội lốt “người tiêu diệt cái ác.”  Dưới danh hào người tiêu diệt “cộng sản ma quỷ và hiếu chiến”, Mỹ đã gây ra nhiều vụ thảm sát dân thường, tra tấn, ném bom, rải chất độc da cam … tàn phá Việt Nam. Những gì mà gã đế quốc giả nhân giả nghĩa này đã gây ra cho dân tộc chúng ta, tôi không bao giờ quên và cũng đã nhắc lại nhiều lần. Trong bài này chỉ xin trích lại lời phát biểu của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì Mỹ mà đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi, đồng bào miền Nam chúng tôi đang lâm vào tình cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng. Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ, giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc. Vì Mỹ mà có những sư đoàn, binh lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc. Nói tóm lại vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian”.


Đáng buồn thay, ngày nay chúng ta có những kẻ lại đi biện minh cho kẻ xâm lược, ghê gớm hơn lại có nhiều gã tung hô và ủng hộ chúng mà chưa từng nghĩ đến máu xương của hàng triệu anh hùng thương binh liệt sĩ đã nằm xuống vì độc lập dân tộc.


3. Người Mỹ bảo vệ công lý. Truyền thông: Cộng sản ma quỷ, Hồi giáo khủng bố.


Các bạn có thấy lạ không, khi mà hầu như đời tổng thống nào của Mỹ cũng gây ra vài cuộc chiến tranh dưới danh nghĩa rất là văn minh: Giúp nhân dân thế giới có tự do dân chủ, lật đổ nền độc tài độc đảng. Và khi chiến tranh đi qua, tất cả chỉ còn lại đống đổ nát hoang tàn.


Chiến tranh là tang thương là chết chóc, là thảm họa của thế giới, là nỗi đau của nhân loại. Tóm lại chẳng ai mong muốn nó xảy ra cả, trừ một nhóm người vô đạo đức làm giầu trên xương máu nhân dân thế giới. Vâng, tôi muốn nói đến các tài phiệt sản xuất và buôn bán vũ khí của Mỹ.


Học Lịch Sử, hẳn mọi người phải biết đến câu này 'Mỹ giầu lên nhờ chiến tranh.' Nhờ có 2 cuộc thế chiến, do đặc thù về vị trí địa lý nên không bị chiến tranh tàn phá, đổi lại Mỹ bán được vũ khí cho cả 2 bên tham chiến. Vậy nên Mỹ mới vươn lên trở thành siêu cường số 1 thế giới.


Nước Mỹ hiện đại có những dây chuyền sản xuất tự động và khổng lồ, từng là công xưởng của thế giới trong thế kỷ trước. Sản xuất quá nhanh, quá nhiều song cũng quá nguy hiểm. Ấy tức khi những sản phẩm ấy không có nơi tiêu thụ thì sẽ “quá nguy hiểm”. Dĩ nhiên, sản xuất thừa mứa nó sẽ xảy ra suy thoái.


Sau thế chiến thứ nhất, nước Mỹ kiếm được bộn tiền từ buôn bán vũ khí và vươn lên trở thành siêu cường. Nhưng 10 năm sau, nước Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế khủng khiếp, tạm gọi là “Đại suy thoái” (1929 - 1933), bắt đầu từ  “Ngày thứ Ba đen tối” (Đây cũng là nội dung có trong chương trình Lịch sử đấy, không ở đâu xa)


Khi sản xuất thừa mứa, cung vượt quá cầu nhiều lần, những nhà kho đầy ắp hàng hóa. Các nhà máy sa thải hàng loạt nhân công. Nạn thất nghiệp bùng phát. Nước Mỹ lâm vào khủng hoảng. Thật may cho nước Mỹ, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhờ Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mới có thể thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng.


Sức cầu kinh tế thế giới đã tăng lên rất mạnh khi chiến tranh nổ ra ở Châu Âu, khi mà Mỹ vẫn chưa phải là một bên tham chiến trước năm 1942 đã cho phép nền công nghiệp Mỹ sản xuất một cách không giới hạn các phương tiện chiến tranh. Nước Mỹ đạt được sự thịnh vượng chưa từng có, vươn lên vị thế siêu cường số 1 thế giới. Tuy nhiên, những kẻ hưởng lợi nhiều nhất trong thời kỳ bùng nổ của nền kinh tế chiến tranh là các nhà đầu tư và các tổ hợp công nghiệp quân sự Mỹ.


Đó là những nhà tài phiệt sản xuất và buôn bán vũ khí ở Mỹ!


Đức thua Liên Xô tan nát, Nhật chính thức đầu hàng đồng minh sau khi ăn trọn 2 quả bom nguyên tử của Mỹ, nhưng nguyên nhân chính là trước đó đội quân Quan Đông chủ lực với 2 triệu người đã bị Liên Xô đánh bại, thế chiến thứ 2 đã kết thúc. Với sự trở lại của hòa bình, bóng ma mất cân đối giữa cung và cầu sẽ quay trở lại ám ảnh nước Mỹ. Đúng hơn là ám ảnh các nhà tài phiệt Mỹ.


Bởi vì trong những năm chiến tranh thế giới, năng lực sản xuất của nước Mỹ đã tăng lên rất đáng kể. Nhưng một khi các sản phẩm ấy không có nguồn tiêu thụ thì sao? Người lao động lập tức đối mặt với việc bị sa thải khi hàng triệu cựu chiến binh trở về nhà và tìm kiếm một công việc dân sự. Kết quả là thất nghiệp, là giảm sức mua sẽ làm trầm trọng thêm sự suy giảm sức cầu.


Đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực quân sự tạo điều kiện đem lại một nguồn lợi nhuận rất cao. Để giữ cho nguồn lợi nhuận đó, nước Mỹ buộc phải tìm ra kẻ thù mới, buộc phải gây chiến. 


Thế là họ khơi lên cái gọi là Chiến tranh lạnh với Liên Xô, đường hoàng tiếp tục sản xuất vũ khí để “thị uy” và “chạy đua vũ trang” với Liên Xô. Và Cộng sản chính là đối tượng được họ chọn để làm nhân vật phản diện, vừa tiêu diệt kẻ thù vừa bán được vũ khí – thật là “nhất cử lưỡng tiện”.


Thế là truyền thông Mỹ ra sức tô vẽ về một  Cộng sản ma quỷ và tàn ác. Chúng bôi bác, nói rằng Liên Xô có âm mưu bá quyền, đưa chủ nghĩa cộng sản bành trướng thế giới.  Vậy là Mỹ bán được vũ khí cho rất nhiều nước trong công cuộc “chạy đua vũ trang toàn cầu”.


Và Mỹ liên tục gây chiến khắp nơi. Chẳng những họ lập nên được chính quyền thân mình, thuận lợi cho công cuộc rút ruột tài nguyên và tiện tay bán vũ khí. Thế là xuất hiện Chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh vùng vịnh, chiến tranh Nam Tư, chiến tranh Trung đông, chiến tranh Bắc Phi (mùa xuân Ả Rập) ... và mới nhất, rất có thể là Iran, Venezuela.


Nhưng không phải lúc nào Mỹ cũng thành công, thậm chí có thể nói Mỹ đã thua đau, thua tan nát trong chiến dịch: Chiến tranh Việt Nam và Việt Nam hóa chiến tranh.


Sau sự sụp đổ của LB Soviet, thế giới quay lại với trạng thái đơn cực không hoàn toàn. Mỹ đã là bá chủ thế giới tuy nhiên chưa đủ mạnh để áp chế tất cả tuân theo luật chơi của mình. Mỹ cũng cần tiếp tục bán vũ khí, cũng cần có cái cớ để đàn áp và xâm lược, cướp bóc nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đám đế quốc khát máu ấy cảm thấy vẫn cần một cái gì đó để biện minh cho những hành động áp bức tàn bạo của mình ở Châu Phi, Trung Đông, Mỹ Latin và Châu Á.


Chúng cần một kẻ thù “hùng mạnh” mới, thực sự “hùng mạnh”, để biện minh cho ngân sách quân sự và tình báo trên trời. Việc đối mặt với vài trăm “quái vật” ở đâu đó trong rừng rậm xứ Colombia hay Bắc Ireland hoặc Corsia không còn đủ nữa. Cần có thứ gì đó thật sự lớn, thứ gì đó sánh ngang được với của “mối đe dọa đáng sợ” từ Soviet. 


Và thế là chúng tạo ra “chủ nghĩa khủng bố”, những người Hồi giáo được gán mác cực đoan đã từng “đánh bom liều chết” khiến hàng chục người Mỹ, hàng trăm người P.Tây thiệt mạng. Thế rồi người ta lại quên đi hàng triệu người Hồi giáo khác đã chết thảm dưới bom đạn người Mỹ và đồng minh. Y như cái cách chúng nó bôi xấu Việt Nam và Chủ nghĩa cộng sản hơn nửa thế kỷ trước.


Xin trích lại quan điểm của André Vltchek, anh là một nhà phân tích chính trị, nhà báo và nhà làm phim người Mỹ gốc Liên Xô. Vltchek sinh ra ở Leningrad nhưng sau đó trở thành công dân Hoa Kỳ nhập tịch. Anh ấy đã sống ở Mỹ, Chile, Peru, Mexico, Việt Nam, Samoa và Indonesia ... và nhiều quốc gia khác. Trích.


“Và thế là phương Tây gắn chủ nghĩa khủng bố với Hồi giáo, một trong những nền văn hóa vĩ đại nhất trên trái đất, với 1,6 tỷ tín đồ. Hồi giáo đủ lớn và hùng mạnh để khiến các bà nội trợ trung lưu ở vùng ngoại ô phương Tây sợ vỡ mật! Thêm vào đó, đằng nào nó cũng cần phải bị kiềm chế, bởi vì về cơ bản nó quá mang tính xã hội chủ nghĩa và quá ôn hòa.


Vào thời điểm đó trong lịch sử, tất cả các nhà lãnh đạo thế tục và xã hội chủ nghĩa vĩ đại của các nước Hồi giáo, (như Iran, Indonesia và Ai Cập), đều đã bị phương Tây lật đổ, di sản của họ bị đập nát hoặc đơn giản là bị cấm đoán.


Nhưng điều đó vẫn chưa đủ với phương Tây!


Để biến Hồi giáo thành một kẻ thù đáng giá, Đế Quốc trước hết phải cực đoan hóa và làm hư hỏng hàng sa số các phong trào và tổ chức Hồi giáo, sau đó tạo ra những loại mới, thường xuyên huấn luyện, vũ trang và tài trợ cho chúng, để chúng trông thực sự đủ đáng sợ.


Dĩ nhiên còn một lý do quan trọng khiến “chủ nghĩa khủng bố”, đặc biệt là “chủ nghĩa khủng bố” Hồi giáo, là tối cần thiết cho sự sống còn của các học thuyết phương Tây, chủ nghĩa ngoại lệ và sự chuyên chế toàn cầu; nó biện minh cho sự siêu việt tuyệt đối về văn hóa và đạo đức của phương Tây.


Đây là cách nó hoạt động:


Trong mô tả của Mỹ và phương Tây, chủ nghĩa khủng bố có nhiều dạng và nhiều bộ mặt, nhưng khủng khiếp nhất là sự tàn bạo máu lạnh.


Chúng ta được yêu cầu tin rằng những kẻ khủng bố là những tên điên bệnh hoạn, chạy quanh với bom, súng máy và thắt lưng chất nổ. Đó là cách chúng ta được yêu cầu hình dung về chúng. 


Nhiều kẻ để râu; hầu hết “trông giống người nước ngoài”, không phải da trắng, không phải phương Tây. Nói tóm lại, chúng là những kẻ đánh vợ, cưỡng hiếp trẻ em, những kẻ phá hủy các bức tượng Hy Lạp và La Mã.


Trên thực tế, trong chiến tranh lạnh có một số “kẻ khủng bố” trông giống người da trắng - những kẻ cánh tả thuộc về một vài nhóm cách mạng, ở Italy và đâu đó của Đông Âu. Nhưng chỉ đến bây giờ chúng ta mới được biết rằng những hành động khủng bố được gán cho họ thực sự do Đế Quốc gây ra, bởi vài chính quyền cánh hữu Châu Âu và mật vụ. Bạn hãy nhớ, chính các quốc gia NATO đã làm nổ tung những con tàu trong đường hầm, hoặc đánh bom toàn bộ các nhà ga...” - Hết trích.


Và thế là khi đế quốc chuyển trục chiến tranh, từ Đông Nam Á dời sang Trung Đông, rồi dời sang Bắc Phi, dời sang Ả Rập, nhiều người dân từng là nạn nhân của chúng sẽ nghĩ đám lang sói ấy sẽ không nhòm ngó thêm lần nữa. 


Không, chúng sẽ làm điều này bất kỳ khi nào chúng muốn, chỉ cần một cái cớ. Năm xưa, chúng từng dựng ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ để ném bom Việt Nam chúng ta. Dùng cái cớ chống xung đột sắc tộc mà tiêu diệt LB Nam Tư. Dùng một lọ muối để tấn công Iraq. Dùng cái cớ tiêu diệt độc tài, bảo vệ nhân quyền để xé nát Lybia. Dùng cớ vũ khí hóa học để không kích Syria. Chiến tranh xảy ra ngay trên quê hương những nạn nhân của chúng. 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn .. khi chúng rút quân đều để lại đống hoang tàn đổ nát, hàng triệu người chết và hàng chục triệu người mất nhà cửa phải rời bỏ quê hương.


Tất cả, những gì chúng cần chỉ là một cái cớ. Bất ngờ, không báo trước, ngang ngược lúc đến và hống hách khi đi.


Đừng thờ ơ khi Mỹ và đồng minh ngang ngược tấn công và xâm phạm một quốc gia có chủ quyền khác. Và làm ơn đừng bao giờ cổ vũ cho hành vi đê tiện của đám sài lang ấy!


Bởi rất có thể một ngày nào đó, chúng ta rồi sẽ lại phải đối đầu với chúng ở phía bên kia chiến tuyến.

Nguồn: https://www.facebook.com/421585147894810/posts/2915073328545967/

Nhận diện âm mưu xét lại, xuyên tạc và phủ nhận lịch sử

I. ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN:


Mưu đồ xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, thậm chí xuyên tạc lịch sử đã xuất hiện những năm gần đây. Đây là vấn đề tiềm ẩn những nguy hại khôn lường đến tương lai, sự tồn vong của chế độ, của chính quyền nhân dân và quốc gia, dân tộc; là âm mưu thâm độc nhất mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở hải ngoại đang “vận hết công lực” để đánh phá ta.

Nguy hiểm hơn là chính một số “người Cộng sản viết sử” có trình độ và am tường về lịch sử, những người đang được Tổ quốc, nhân dân tín nhiệm, giao phó chép sử, viết sử cho dân tộc để lại cho muôn đời sau lại đang có tư tưởng, hành động cổ súy cho việc “cạo lông, rửa mặt cho giặc”; bóp méo sự thật, hủy hoại những giá trị bất diệt của lịch sử dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh; đó mới là điều đáng buồn, đáng đau và đáng hận!

GS Phan Huy Lê (trái) và GS Vũ Minh Giang (phải), thành viên tham gia biên soạn Bộ Quốc sử Việt Nam.

Tư tưởng đòi xét lại lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng có xu hướng gia tăng với nhiều vụ việc đáng lo ngại, như: Đòi bỏ cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền” vốn được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ và nhân dân ta dùng để gọi đám tay sai, bán nước, thờ ngoại bang để giày xéo đất nước, quê hương, chia đôi giang sơn của tổ tiên để lại. Đòi công nhận, tôn vinh một số tên việt gian phản quốc của đám ngụy tặc.

Xét lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ; phỉ báng lịch sử, xúc phạm hình tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, thậm chí xuyên tạc, hạ bệ cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Lê Đức Anh và một số lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Nguy hiểm hơn, họ còn xuyên tạc cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là nồi da xáo thịt, là nội chiến, là hy sinh hàng triệu nhân mạng vô ích; cho rằng chúng ta đánh Pháp và Mỹ là đánh đuổi hai nền văn minh nhân loại, Pháp đánh nước ta là để mượn đường chiếm Trung Quốc…

Mục đích cuối cùng của chúng là hạ bệ thần tượng, “chặn dòng nguồn nước”, “rút đá móng tường”, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng ta trong việc dẫn dắt dân tộc đến bến bờ hành phúc như hôm nay, phủ nhận Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa nhòa công lao to lớn, vĩ đại của Đảng, của Bác Hồ, của Quân đội ta hòng đòi lật đổ Đảng, chính quyền nhân dân để đưa đất nước theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập kiểu Mỹ, phương Tây.

II. NỖI ĐAU “ĐOẠN TRƯỜNG” CỦA LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC XHCN

Đây là chiêu bài không hề mới mẽ, thậm chí nó đã một thời là nỗi đau “đoạn trường” của những người Cộng sản khi Liên Xô – Hòn đá tảng của Chủ nghĩa Cộng sản bị đánh sập, không phải vì những tràng đại bác của Chủ nghĩa Đế quốc mà bằng tổng hợp các đòn đánh của âm mưu “diễn biến hòa bình” mà trong đó việc lật sử chính là đòn đánh vào tử huyệt, làm tê liệt những người Cộng sản Liên Xô!

Chính những kẻ từng là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô bị thoái hóa, biến chất toàn diện, thay vì bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ thì họ lại chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng tháng Mười, Chủ nghĩa Lênin và chính Lênin, bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ xã hội. Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định CNXH.

Chiến dịch xét lại lịch sử diễn ra rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gorbachev tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Đau xót trước sự công phá khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ có đoạn:

Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử
Cào chiến công, xé cả xác anh hùng
Ôi! nỗi đau này là nỗi đau chung
Lương tâm hỡi lẽ nào ta tự sát?

Đất nước ta, trong những năm gần đây cũng có hiện tượng nở rộ “mùa xuân lật sử” của đám xét lại lịch sử, tuy chưa đến mức như ở Liên Xô vào những năm của thập kỷ 80, song cũng đến lúc phải nâng cao cảnh giác; báo động và kiên quyết đấu tranh loại bỏ chúng.

III. ĐẬP TAN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XÉT LẠI, XUYÊN TẠC VÀ PHỦ NHẬN LỊCH SỬ

1. Tất cả những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể nói rằng, ở nước ta đang có sự hình thành Chủ nghĩa xét lại trong ngành lịch sử, một nguy cơ hiện hữu nếu chúng ta không nhận diện rõ thì hậu quả của nó là khó lường.

Tất cả những người dân yêu nước, cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang nhân dân…, đặc biệt là các cựu chiến binh, những người đã vào sinh ra tử để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” năm xưa hãy tiếp tục lên tiếng để đánh trả bọn lật sử, bọn cổ súy cho lật sử và bọn đang hà hơi tiếp sức cho chúng bằng những đòn đánh trực diện, những đòn đánh mang tinh thần và khí phách của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng, không để chúng đổi trắng thay đen, không để chúng “cắn vào lịch sử”.

2. Trong những năm qua, bộ môn giáo dục lịch sử sa sút, học sinh, sinh viên không muốn học sử, đã thế Bộ Giáo dục – Đào tạo lại còn đưa ra “sáng kiến” đề xuất Chính phủ tích hợp môn sử vào chung với các môn học khác.

Trước thực trạng xem nhẹ môn lịch sử, cần thiết phải đề xuất tổng hợp các giải pháp để biến môn Lịch sử trở thành môn thi bắt buộc ở các cấp, tính từ bậc Tiểu học trở lên; có thế mới giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, thương nòi; trân quý và yêu hơn về đất nước, con người Việt Nam, yêu hơn về giá trị của hòa bình, để không còn tình trạng những đứa trẻ miệng còn hôi sữa nhưng đã lật lộng, đã phản phúc, đã vô ơn với công lao của tiền nhân, những người đã hy sinh máu xương để cho đất nước thái bình.

3. Hãy loại bỏ và đánh gục cái tư tưởng “cố thủ thành trì”, bảo vệ cái ghế của mình của cán bộ, đảng viên; những người thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; các cơ quan có thẩm quyền phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của giặc.

Phải định hướng và khơi dậy lòng yêu nước, cho họ thấm thía vì sao phải bảo vệ thành quả cách mạng, phê phán và đẩy lùi mọi âm mưu, thủ đoạn hạ thấp thành quả cách mạng, xuyên tạc lịch sử để họ tự giác bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ những chiến công, thành quả của cách mạng như những điều thiêng liêng nhất.

Với những người là cán bộ, đảng viên đang tham gia “trào lưu” lật sử, cổ súy cho lật sử, nói và viết xuyên tạc lịch sử thì phải kịp thời “thổi còi” vì đó chính là những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

4. Phải xem những hiện tượng xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lịch sử là hành vi phá hoại, như đào phá vào nền móng, chân tường của ngôi nhà hòa bình, độc lập của Tổ quốc.

Phát hiện và ngăn chặn những dòng tiền từ hải ngoại gửi về để nuôi dưỡng cho đám giặc nội xâm đang tiếp tay cho chúng; không để đồng tiền làm hoa mắt, chuyển tâm, trở cờ theo giặc để xuyên tạc lịch sử.

Bảo vệ không chỉ bằng làm tốt việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống mà còn phải gắn với bảo vệ thể chế, bảo vệ cuộc sống hòa bình, ổn định, phát triển đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thế hệ đi sau trên nền tảng thành quả của người đi trước phải trân trọng, vun đắp và biết phát huy để những thành quả ấy ngày càng đơm hoa, kết trái; để lịch sử như tấm gương soi, giúp thế hệ sau soi vào cả quá khứ và hiện tại, tương lai với sự trân trọng, biết ơn, rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá.

5. Không gian mạng là một chiến trường không tiếng súng nhưng vô cùng khóc liệt; hiện nay Việt Tân và các tổ chức phản động đang dồn sức, bơm tiền vào trong nước để nuôi dưỡng bọn có trí thức nhưng trở cờ, bọn lưu mạnh nhân danh “Quốc sử”, bọn lười lao động nên làm tay sai cho giặc để kiếm tiền để trác táng ăn chơi.

Trên không gian mạng ngày càng nhiều hội, nhóm, Facebook cá nhân đang muốn “cạo lông, rửa mặt, bôi son” cho cái “thây ma” đã thối 44 năm qua, chúng ca ngợi lũ ngụy tặc hết lời; bôi nhọ, phủ định chế độ ta. Mọi người nên bớt thì giờ và công sức để dành thời gian vàng ngọc của mình đấu tranh, phản bác và lột trần bộ mặt đê hèn của chúng.

Đối với âm mưu, thủ đoạn của bọn Việt gian lật sử thì chúng ta cần đoàn kết, nhất trí, trên dưới một lòng để kiên quyết đấu tranh với chúng đến cùng; cần đào tận gốc, tróc tận rễ! Không thể khoan nhượng với bọn đòi “cạo lông, rửa mặt cho giặc”!

Nhân nhượng với giặc là tàn bạo với chính mình. Xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu để kết thúc bài viết này:

Không sức nào ngăn nổi sức nhân dân
Ngày mai sẽ là ngày mai cộng sản!

Dương Vương Kinh

Nguồn: https://tiengkeng.com/nhan-dien-am-muu-xet-lai-xuyen-tac-va-phu-nhan-lich-su.html


Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

VĂN HÓA LAI CĂNG: CẠM BẪY THÂM ĐỘC CỦA ĐÁM THỰC DÂN ĐẾ QUỐC


Tính năng On This Day (Ngày này năm xưa) của facebook khiến tôi xem được video này, muốn chia sẻ cùng các bạn. Các bạn xem xong có thấy nhục không? Tôi thì có, vừa nhục vừa cay đắng. Cùng một kiếp người, mà ngày xưa cha ông ta từng bị đám Tây lông xem như con thú, lâu lâu chúng lấy ra tieu khiển.


Trước tôi xem cái video này, cảm giác lúc đó gặp thằng nào còn mở miệng: Việt Nam đánh đuổi Pháp, Mỹ là đánh đuổi đi 2 nền văn minh lớn nhất thế giới – thật sự muốn đấm vỡ mồm nó. Không phải đánh nó vì ngu, đánh nó vì sự vô ơn và trâng tráo.


Trong thời gian đô hộ nước ta, chẳng những khai thác bóc lột tài nguyên đến cạn kiệt, thực dân Pháp đã sử dụng chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị. Đó là các chính sách nô dịch về văn hóa, đầu độc về tư tưởng, nó khiến dân ta nhận thức rằng các giá trị văn hóa phương Tây là văn minh tân tiến, nền văn hóa truyền thống dân tộc là lạc hậu, ti tiện. Mục đích của những chính sách đó là nhằm nô dịch tinh thần quần chúng, biến nhân dân thành những đám đông tự ti, khiếp nhược trước sức mạnh của văn minh Đại Pháp, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền thống tốt đẹp, phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc.

Thực dân Pháp cũng có mở trường học, nhưng đối tượng chủ yếu là bè lũ tay sai và con em của chúng, với một số ít là những gia đình có điều kiện theo văn hóa Tây học – mục đích cuối cùng cũng chỉ để phục vụ bộ máy chính quyền thuộc địa. Và phần lớn những người này cũng sẽ tự cho mình là thượng đẳng hơn phần còn lại, thản nhiên chà đạp lên chính đồng bào mình, và xem đó là sự hiển nhiên. Dần dà, quan điểm của đám người này khiến cái văn hóa lai căng nó ngày càng phát tán.


Vậy nên, hầu hết nhân dân ta mù chữ. Khi đã mù chữ, dễ hiểu là thiếu kiến thức, văn hóa – nên bị bọn Tây lông nó gọi là dân “An Nam Mít”, trong mắt chúng xem dân ta là lũ hạ đẳng, chỉ ngang con thú.


Nhục không? Nhục lắm đấy chứ! Hậu quả của chính sách ngu dân đó đến giờ vẫn còn để lại hậu quả khủng khiếp, hàng triệu đồng bào của ta đến giờ vẫn cuồng Tây, mở mồm ra là: Việt Nam đã hi sinh máu xương vô ích chỉ để đánh đuổi đi 2 nền văn minh. Mẹ, làm người không muốn cứ thích làm nô lệ.


Mà không chỉ riêng Pháp – Việt Nam, trước thể kỷ XX dưới cái gọi là “công cuộc thực dân hóa của đế quốc phương Tây”, dân phương Tây cũng đâu xem dân bản xứ ở các nước Á, Phi, Mỹ latin như người đâu. Chính xác đấy, chúng xem dân bản xứ là “hạ đẳng, man di, mọi rợ”


Có thể nói, gần 100 năm sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp chính là đêm trường nô lệ, là quãng thời gian tăm tối nhất của dân tộc. Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp tiến hành công cuộc bóc lột thuộc địa điên cuồng. Chúng khai thác tài nguyên, bắt người Đông Dương lên các đồn điền làm cu li, đi sang các xứ “tân lục địa” làm nô lệ. Máu đỏ đồn điền cao su, xương trắng đồn điền chè, nước mắt khắp trời dân tộc. Nhắc đến thời kỳ kinh hoàng ấy, hàng triệu người già Việt Nam vẫn còn không khỏi đớn đau.


Các bạn trẻ bây giờ nghe nhạc ngoại, tìm hiểu đủ thứ văn hóa khắp năm châu bốn biển, theo đuổi nhiều giá trị ngoại lai xa lạ … chỉ có điều không mấy ai chịu tìm hiểu về lịch sử dân tộc. Trong chúng ta, có ai đã từng đọc qua những áng văn được viết bằng máu và nước mắt của cha ông tổ tiên hay không? Hoặc đơn giản, như Bản án chế độ thực dân của Hồ Chủ tịch (khi ấy còn lấy tên là Nguyễn Ái Quốc). Thuế máu, khai thác thuộc địa, chế độ ngu dân, đàn áp nô lệ, đầu độc văn hóa, chia để cai trị … nhưng tất cả được chúng gọi là “khai hóa văn minh”. Dưới ách ngoại bang, trước là thực dân Pháp, sau là đế quốc Nhật - kế đó là bè lũ cường quyền ác bá tay sai Phong kiến - cả dân tộc phải chịu đau thương mất mát không kể xiết. Chỉ có những kẻ tay sai chó săn của thực dân sẵn sàng gây ác để đổi lấy đời sống sung sướng.


Đáng sợ thay, tàn dư của chế độ ngu dân vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ!

Và đớn đau nhất, là cái thứ văn hóa lai căng, me Tây me Mỹ ấy vẫn tồn tại dai dẳng đến tận bây giờ. Những kẻ như thế đang suốt ngày ra rả lên án các phong tục truyền thống tốt đẹp của cha ông là lạc hậu, và đòi công nhận những trào lưu văn hóa ngoại lai đến từ phương Tây là văn minh hiện đại.


Và thế là, có một đám những kẻ trí thức bất mãn, suốt ngày ra rả chửi chế độ, tôn vinh “văn hóa phương Tây”. Một lũ trẻ ngu muội và vô lương hiện nay tâng lên mây xanh văn minh Tây học rởm đời. Và tới giờ có không ít con cháu của nạn nhân lại đi ngợi ca kẻ thủ ác khi quên hết tội ác mà chúng đã gây ra cho tổ tiên, cha anh. 


Đó là hành động mất dạy và vô ơn, trâng tráo!


Nói thêm để các bạn hiểu. Trước năm 1940, ở Mỹ và các nước phương Tây còn tồn tại cái gọi là “vườn thú người”. Vâng, không sai đâu, trong đấy không nhốt thú vật để triển lãm mà bọn đế quốc nhốt người bản xứ Á, Phi, Mỹ latin để tiêu khiển. Là những người da vàng, da đen và da đỏ, chúng gọi tất cả là “khỉ da vàng – đen – đỏ”. Mãi sau này khi các dần tộc khác, đất nước khác dần lớn mạnh, và dưới sự đấu tranh của những người da trắng tiến bộ, những vườn thú kiểu này mới dần dẹp bỏ dần dần trên khắp thế giới. Tôi sẽ không kể chi tiết về vườn thú người nữa, bởi mức độ vô nhân đạo và ám ảnh mà nó đem lại là rất lớn, bạn nào thích có thể tự tìm hiểu.


Ngày nay, chịu ảnh hưởng bởi cái gọi là “Văn minh Tây học”, ngoài nhiều người Việt Nam trong vô thức xem Tây là thượng đẳng thì vẫn có nhiều người phương Tây xem dân Việt Nam mình là hạ đẳng ấy. Chỉ có điều có người bộc lộ ra mặt, có kẻ chỉ giữ trong lòng mà thôi.


Cảm ơn Hồ Chủ Tịch vĩ đại, cám ơn ông cha tổ tiên đã hi sinh xương máu giành về độc lập dân tộc, tất cả để cho chúng ta có được ngày hôm nay!

Nguồn: https://www.facebook.com/421585147894810/posts/2991175624269070/



MỸ THẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG NHẬT BẢN: NÉM BOM VÌ HÒA BÌNH HAY HÀNH VI VÔ ĐẠO ĐỨC?

 (Nhân dịp 75 năm ngày Mỹ chính thức thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản, 06/08/1945 – 06/08/2020)

__________


Đến đầu năm 1945, khi ấy cả nước Nhật rệu rã, Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã không còn khả năng thực hiện một chiến dịch quân sự nào nữa,  nó báo hiệu một cuộc tiến công của quân Đồng Minh vào lãnh thổ Nhật Bản sắp sửa diễn ra. 


Người Nhật còn chút hi vọng vào Đạo quân Quan Đông gồm hàng triệu người, là đạo quân mạnh nhất trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, đã từng khiến Mỹ và các Đồng minh e dè. Tuy nhiên, do sự đầu tư của Nhật Bản trước Thế chiến II chủ yếu tập trung cho Hải quân và Không quân khiến cho đạo quân Quan Đông trang bị yếu kém, nhất là về sức mạnh tăng thiết giáp. Chính vì điều này, xét về tương quan trang bị, dù cho có ý chí chiến đấu đến điên cuồng thế nào chăng nữa, năng lực của đội quân này không thể là đối thủ của Hồng quân đang hừng hực khí thế. Đến cuối tháng năm 1945, đạo quân Quan Đông mặc dù kiên trì kháng cự Hồng quân Liên Xô nhưng sự sụp đổ của đạo quân này chỉ còn là vấn đề thời gian.


Với sự tham gia của Liên Xô cùng những chiến thắng như chẻ tre trước đó, Hội đồng chiến tranh tối cao của Nhật Bản đã kết luận: có thể đánh một trận quyết định chống lại một đại cường quốc tiến công từ một hướng, song không thể nào đánh lui hai đại cường quốc tiến công từ hai hướng khác nhau. Trong một cuộc họp của Hội đồng Tối cao vào tháng 6 năm 1945, họ đã nói rằng sự tham gia của Liên Xô vào cuộc chiến “sẽ quyết định số phận của cả Đế quốc”. Cũng trong cuộc họp đó, Phó Tổng Tham mưu Lục quân Kawabe đã nói rằng “Duy trì tuyệt đối hòa bình trong quan hệ của chúng ta với Liên Xô là hết sức quan trọng nếu muốn tiếp tục cuộc chiến”. Tức là với người Nhật, chiến dịch Mãn Châu của Liên Xô đã làm tan biến mọi hy vọng kháng cự của Nhật Bản.


Thế là đạo quân Quan Đông được lênh “quyết chiến tới cùng” và công khai thể hiện điều này, nguyên nhân giới lãnh đạo Nhật Bản (tức Hội đồng Chiến tranh Tối cao) đã bí mật cầu khẩn Liên Xô (đã ký hiệp ước trung lập với Nhật) làm trung gian hòa giải để cho Nhật được hưởng những điều kiện có lợi khi đầu hàng, ít nhất là Thiên Hoàng còn có được quyền lực khi Nhật Bản giải giáp. 


Biết được thông tin này, ngày 26 tháng 7, H.Truman và các lãnh tụ phe Đồng minh ra bản Tuyên bố Potsdam, vạch ra điều kiện đầu hàng cho nước Nhật:


“Chúng tôi kêu gọi chính phủ Nhật Bản ra tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngay lập tức cho toàn bộ lực lượng vũ trang Nhật, và đưa ra sự đảm bảo thích đáng và đầy đủ đối với thiện ý của họ trong hành động như vậy. Sự lựa chọn khác cho Nhật Bản là sự hủy diệt toàn bộ ngay lập tức.”


Ngày hôm sau, các báo chí Nhật nêu rằng, bản tuyên bố, văn bản được truyền bá và trong những tờ truyền đơn thả xuống Nhật Bản đều bị từ chối. Những quả bom nguyên tử vẫn được giữ bí mật và không hề đả động trong bản tuyên bố.


Thiên hoàng Hirohito, vốn đang chờ đợi Liên Xô trả lời những thăm dò về hòa bình, đã không có bất kỳ thay đổi lập trường của chính phủ. Rõ ràng, ông ta hi vọng Nhật Bản được đầu hàng Liên Xô, là Hồng quân Liên Xô tiếp quản xứ sở Mặt trời mọc và quyền lực của Thiên Hoàng được duy trì. 


Nên nhớ, trước đó khối Đồng Minh đã cùng với Liên Xô tham gia Hội nghị Tehran và Yalta, và người Mỹ muốn Liên Xô tấn công Nhật Bản. Và có lẽ, Liên Xô sẽ quyết thực hiện “lời hứa” của mình trước Mỹ và Anh.


Thế nhưng, người Mỹ thì muốn nhiều hơn thế. Lo sợ Nhật Bản đầu hàng Liên Xô, thế là Mỹ đã vạch ra kế hoạch làm gì đó để có thể tiếp quản Nhật Bản, đồng thời thể hiện vị thế siêu cường của mình. Tổng thống Mỹ khi ấy là H.Truman đã quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân để sát hại dân thường Nhật Bản, buộc nước Nhật phải sớm đầu hàng vô điều kiện.


Với quan điểm truyền thông: Ném bom vì hòa bình. Nhà vật lý học Edward Teller cho rằng: “Hy vọng duy nhất là để mọi người thấy thấy được kết quả của những gì chúng ta đã làm. Điều này có thể giúp thuyết phục mọi người rằng cuộc thế chiến kế tiếp sẽ vô cùng tàn khốc. Vì mục đích này, việc đem sử dụng bom nguyên tử trong chiến trận thực tế có thể sẽ là lựa chọn tốt nhất”.


Mục đích của Mỹ rất rõ ràng: Thả bom nguyên tử không những phải gây thương vong khủng khiếp, mà còn phải gây ấn tượng mạnh như việc xóa sổ một thành phố ra khỏi bản đồ thế giới. Giới tinh hoa của Mỹ thừa hiểu việc sử dụng bom nguyên tử sẽ mang lại hậu quả khủng khiếp, nhưng cái lý của họ là lại muốn nó kinh khủng như vậy để “sớm chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai và ngăn chặn việc sử dụng bom hạt nhân trong tương lai”, “hạn chế thêm thương vong không cần thiết.”


Ném bom nguyên tử vì hòa bình, nghe rất “nhân văn và đạo đức” đúng không?


Thế là, Mỹ quyết định tấn công một thành phố dân sự, trước đó còn rải hàng triệu tờ truyền đơn nhân đạo cảnh cáo về cuộc tấn công bằng vũ khí siêu cường. Và rồi, sau đó 1 ngày, theo lệnh của Tổng thống Harry Truman, ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản.


Sức tàn phá của quả bom nguyên tử đầu tiên thật kinh hoàng. Đám mây hình nấm cuộn lên vào khoảng 1 tiếng sau khi bom rơi.  Sau này người ta thống kê được, sau vụ nổ tại Hiroshima đã có khoảng 75.000 người chết ngay lập tức, 65% trong số đó là trẻ dưới 9 tuổi. Số người chết tiếp tục tăng vài ngày sau do bức xạ… Với những người may mắn sống sót, sức khỏe của họ suy giảm trầm trọng. Họ mất cảm giác ngon miệng, tóc rụng, nhiều đốm xanh lợt xuất hiện trên cơ thể, máu chảy ra từ tai, mũi, miệng và thường chỉ sống thêm được vài năm sau đó.


Tất cả, đều là những thường dân vô tội tay không tấc sắt. Đây là một trong những tội ác man rợ nhất lịch sử loài người. Không thể phủ nhận rằng Nhật Bản thuộc về phe phát xít trong thế chiến, nhưng những gì người Mỹ đã làm qua việc thả bom nguyên tử xuống thành phố dân sinh còn kinh khủng hơn thế nhiều. Man rợ hơn tất cả những gì phát xít Nhật đã từng làm.


Nhưng người Nhật vẫn kiên trì, thật sự mong muốn họ có thể đầu hàng Liên Xô. Trong ngày 6/08/1945, sau khi ném bom nguyên tử ở Hiroshima, Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đã lên sóng phát thanh kêu gọi đầu hàng của Nhật Bản. Tổng thống Truman nói về bom nguyên tử và đe dọa nếu Nhật Bản không đầu hàng thì những tai họa như Hiroshima sẽ tiếp tục. 


Và thông báo của Truman đã được Hoàng thân Koichi Kido chuyển cho Nhật hoàng lúc 13h30 phút ngày 07/08. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Nhật Bản (và hầu như toàn thế giới) khi đó chưa hề hiểu khái niệm “bom nguyên tử” là gì. Việc một thành phố bị hủy diệt là một tin gây chấn động trong thời hòa bình, nhưng trong bối cảnh năm 1945, hàng chục thành phố Nhật Bản như Tokyo, Osaka, Yokohama... đã bị máy bay ném bom Mỹ tàn phá hoàn toàn trong suốt nhiều tháng trước đó, riêng trận ném bom ở Tokyo đã giết hơn 100.000 thường dân chỉ trong 1 ngày, nên việc thành phố Hiroshima bị phá hủy và lời đe dọa mơ hồ của Truman đã chẳng gây được nhiều ấn tượng với bộ chỉ huy Nhật. 


Việc Hội đồng Tối cao Đế quốc Nhật Bản hủy cuộc họp về vụ ném bom tại Hiroshima chứng tỏ các thành viên Hội đồng không coi vụ ném bom này là nghiêm trọng hơn những vụ trước đó. Và họ vẫn mong muốn được đầu hàng Liên Xô, và quyền lực của Thiên Hoàng sẽ ít nhiều được duy trì sau khi chiến tranh kết thúc.


Vào tối muộn ngày 8 tháng 8 năm 1945, chiểu theo thỏa thuận Yalta nhưng vi phạm Hiệp ước Trung lập Nhật-Xô, Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản và ngay sau đó Liên Xô đã tấn công chính quyền bù nhìn của Nhật ở Mãn Châu.


Nhưng người Mỹ phản ứng thần tốc, rất nhanh tay ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó, nhiều gấp đôi số người thiệt mạng ở Nagasaki trước đó. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân. Và hàng triệu người khác đã chết sau đó không lâu vì sức tàn phá và ảnh hưởng khủng khiếp của phóng xạ, thậm chí cho đến ngày nay người Nhật vẫn không thể khắc phục hoàn toàn.


Khi hàng trăm ngàn người dân vô tội bị chết, và người Mỹ lại càng ngạo nghễ. Họ nói rằng sẽ có một quả bom nữa vào tuần thứ ba tháng 8, ba quả nữa tháng 9 và ba quả tháng 10. Mục tiêu thứ 3 này được tin là Tokyo và có thể là cung điện Nhật hoàng Hirohito sẽ bị san phẳng.


Robert Norris, một thành viên Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ và từng nhiều năm nghiên cứu lịch sử của những vụ ném bom nguyên tử đầu tiên, nhận định việc Mỹ ném bom hủy diệt Hiroshima “thật sự (khiến thế giới không còn dám nghĩ đến chiến tranh hạt nhân) nhiều năm sau đó bởi sức tàn phá kinh khủng của nó.


Vậy là ngày 10 tháng 8, sau khi Liên Xô nổ súng tấn công triều đình Mãn Châu, lấy ý kiến của Hội đồng tối cao, Thiên hoàng Hirohito đưa ra lời phán: “Trẫm đã nghĩ kĩ rồi. Người Nga đã tham chiến. Nhật Bản đang lâm vào tình thế “lưỡng đầu thụ địch” cả hai mặt đều bị tiến công. Chỉ còn một giải pháp do thủ tướng Suzuki đề xuất là đầu hàng ngay lập tức mới có thể tìm được lối thoát.”


Thế là, sau cú sốc cộng hưởng của những sự kiện này đã khiến Nhật hoàng Hirohito phải ra lệnh cho Hội đồng Chiến tranh Tối cao chấp nhận những điều kiện kết thúc chiến tranh mà Khối Đồng Minh, đứng đầu là Mỹ đã soạn thảo trong Tuyên bố Potsdam.  


Ngày 15/08/1945 Nhật hoàng Hirohito đã đọc bài diễn văn Gyokuon-hōsō trên đài phát thanh tuyên bố Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, đầu hàng vô điều kiện.


Rõ ràng, với sức mạnh truyền thông của mình, người Mỹ luôn cố nói theo kiểu rằng họ góp phần lớn trong thế chiến II, và hai quả bom nguyên tử kia đã chấm dứt chiến tranh sớm hơn nhiều tháng và hạn chế thiệt hại sinh mạng các bên tham chiến. Quan điểm rất rõ ràng: Ném bom vì hòa bình, tức là tiêu diệt hàng triệu sinh mạng vô tội khác để sớm chấm dứt chiến tranh là kiểu Hòa bình của người Mỹ.


Nhưng, ném bom tàn sát dân thường, rõ ràng là hành vi vô đạo đức!


Thời khắc Nhật Hoàng Hirohito cúi đầu trước tướng Mỹ là Douglas MacArthur trong ê chề, kết cục tất yếu của một nước bại trận – mà là bại trận trong đau đớn với hàng triệu thường dân vô tội bị chết oan vì bom nguyên tử. Bị Mỹ tiếp quản, cai trị, tước quân đội, sửa hiến pháp - có lẽ cũng kể từ thời khắc đó, tinh thần Võ Sĩ Đạo của người Nhật cũng bắt đầu chết mòn.


Xin chia buồn cùng nước Nhật!

Nguồn: https://www.facebook.com/421585147894810/posts/2991395480913751/