Thứ Hai, 13 tháng 9, 2021

VACCINE MỸ, HIỆU QUẢ THỰC TẾ HAY LÀM TRUYỀN THÔNG?

Bài trước

https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=1647026582151102&id=167795750074200 trang có nói về việc 60 năm trước trong điều kiện đất nước đang còn chiến tranh và rất khó khăn, các nhà khoa học non trẻ của ngành y học Việt Nam, đứng đầu là bác sỹ Hoàng Thủy Nguyên dưới sự chỉ đạo của bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế, đã nghiên cứu sản xuất thành công hai loại vaccine quan trọng: phòng bệnh đậu mùa (do chủng virus Variola gây ra) và phòng bệnh bại liệt (tiếng La-tinh: Poliomyelitis, do siêu vi trùng Poliovirus - PV, trong chi Enterovirus gây ra) còn gọi là bệnh viêm tủy xám).


Nhưng để các nhà khoa học non trẻ của ngành y học Việt Nam có cơ sở để chế tạo vaccine phòng bệnh bại liệt lại là một câu chuyện khác, cũng như công cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh này trên thế giới và hậu quả của chính sách "ngoại giao vaccine".


Trước thời điểm Việt Nam sản xuất thành công vaccine là giai đoạn đầy thử thách không chỉ cho Việt Nam mà cả thế giới đều khốn đốn trước sự hoành hành của căn bệnh bại liệt. Cũng như đậu mùa, bại liệt xuất hiện từ rất lâu, hàng nhiều ngìn năm trước đã hoành hành các cộng đồng loài người thời thượng cổ, được minh họa trong những bức tranh cổ đại. Bại liệt lần đầu được công nhận là một bệnh riêng biệt bởi bác sỹ người Anh Michael Underwood năm 1789.


Có thể nói việc nhà khoa học Anh Jenner phát minh ra vaccine năm 1796 là một thành tựu y học vĩ đại của nhân loại. Kể từ khi vaccine ra đời, loài người đã có được một loại vũ khí sắc bén, hữu hiệu để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Nhưng với bại liệt không đơn giản như thế, tới năm 1840 nó mới được Jakob Heine nghiên cứu ra căn nguyên, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu vaccine.


Các đợt bùng phát bệnh bại liệt lớn bắt đầu xuất hiện cuối thế kỷ XIX tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Đến thế kỷ XX bại liệt đã trở thành một trong những bệnh ở trẻ em đáng lo ngại nhất tại những khu vực này, thỉnh thoảng lại bùng lên thành các đợt dịch lớn và thảm thương thay, đa phần nạn nhân tử vong lại là trẻ em hoặc vị thành niên. 


Năm 1909, lần đầu tiên nhà miễn dịch học người Áo Karl Landsteiner phân lập được chủng Poliovirus gây bệnh và sau đó bác sỹ người Áo Erwin Popper phát hiện ra đặc tính truyền nhiễm của bệnh bại liệt. Poliovirus gây ra tình trạng yếu cơ, chủ yếu ở chân, đôi khi xuất hiện ở đầu, cổ và cơ hoành, nhưng có thể phá hủy tủy sống, để lại di chứng tàn phế quái ác: liệt tứ chi, thậm chí là tử vong.


Mặc dù khi nhân loại biết dùng kháng sinh để điều trị, nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, như lao, viêm phổi, giang mai... đã giảm rất mạnh nhưng phần lớn các bệnh truyền nhiễm mạnh nhất, như bại liệt, vẫn chưa có thuốc chữa. Bài trước cũng có nói, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt từng là một nạn nhân vào năm 1921, nhưng thoát chết và phải ngồi xe lăn.


Số vụ mắc bệnh bại liệt ở Hoa Kỳ liên tục tăng từ đầu những năm 1940. Mỗi mùa hè tới, dịch bại liệt lại xuất hiện ở Hoa Kỳ. Một khi bị nhiễm không có phác đồ điều trị cụ thể nào, nhưng cuối cùng nó có thể được ngăn ngừa bằng cách dùng vaccine phòng bại liệt, nhưng cần nhiều liều để vaccine phát huy tác dụng. 


Trong bối cảnh kinh khủng vì bại liệt đó, có hai hướng nghiên cứu vaccine phòng bại liệt ở Hoa Kỳ cuối thập niên 1940 - đầu thập niên 1950, phát triển thành hai loại vaccine sau này được dùng rộng rãi trên khắp thế giới, đều kích thích miễn dịch với bại liệt nhưng dựa trên hai nguyên tắc khác nhau: loại đầu tiên dùng Poliovirus sống đã làm yếu, chủng qua đường uống  (Oral Polio Vaccine, OPV) và loại thứ hai dùng tế bào bại liệt chết, hay còn gọi là virus bại liệt không hoạt động (Inactive Polio Vaccine, IPV) chủng qua đường tiêm. Cả hai loại đều có hiệu quả trong việc khống chế truyền bệnh từ người sang người đối với các virus bại liệt tự nhiên, do đó bảo vệ được cả người nhận vaccine và cộng đồng, còn được gọi là miễn dịch nhóm.


Nguyên mẫu vaccine bại liệt đầu tiên trên thế giới là loại virus "sống", do nhà nghiên cứu miễn dịch người Mỹ gốc Ba Lan Hilary Koprowski (ảnh 1) điều chế dựa trên một loại huyết thanh của virus còn sống nhưng đã bị làm yếu và thử nghiệm thành công tại Phòng thí nghiệm Lederle ở Pearl River, New York, Hoa Kỳ. Ông là người đầu tiên điều chế thành công vaccine bại liệt dạng uống, một cậu bé 7 tuổi được uống vào ngày 27/2/1950. 


Mặc dù không nổi tiếng bằng hai nhà nghiên cứu sau này là bác sỹ người Mỹ gốc Do Thái Jonas Salk (ảnh 2) và bác sỹ người Mỹ gốc Ba Lan Albert Bruce Sabin (ảnh 3), song thử nghiệm của Koprowski khẳng định rằng có thể ngừa bệnh bại liệt bằng vaccine khi mà căn bệnh đang hoành hành nhiều nơi trên thế giới.


Thế nhưng vì lý do nào đó vaccine "sống" dạng uống của Koprowski không được giới chủ Hoa Kỳ quan tâm và năm 1952 Hoa Kỳ xảy ra vụ bùng dịch bại liệt lớn, khiến hơn 3.000 người chết. Con số này chỉ bằng 1/10 số người chết vì viêm phổi và 1/70 số người chết vì ung thư trong năm ấy nhưng vẫn có những lý do để người ta kinh hãi bệnh bại liệt. Theo cuốn “The Cutter Incident” của Paul Offit, một cuộc thăm dò dư luận tại Hoa Kỳ trong những năm đầu của thập niên 1950, cho thấy nỗi sợ bệnh bại liệt chỉ xếp sau nỗi sợ chết vì vũ khí hạt nhân.


Về phần Salk, tốt nghiệp trung học tại Townsend, một ngôi trường công dành cho học sinh đặc biệt tài năng năm 15 tuổi, Salk đâm đơn xin học vào Đại học Thành phố New York, nơi nổi tiếng vì có độ cạnh tranh cao. Đạt tiêu chuẩn để vào trường rất khó, nhưng khi đã được nhận, sinh viên không phải trả học phí. Khác so với nhiều ngôi trường còn lại ở Hoa Kỳ, người Do Thái và da đen không bị áp định mức, không chịu sự kỳ thị ở đây. Salk tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học tự nhiên năm 1934. Một thời gian sau, Salk theo học y tại Trường Y Đại học New York, tại đây Salk đã góp sức vào nỗ lực nghiên cứu vaccine chống bệnh cúm. 


Về phần Sabin, cũng năm 1934 Sabin bắt đầu làm nghiên cứu tại Học viện Y học Dự phòng Lister (Lister Institute of Preventive Medicine) tại Anh, sau đó gia nhập Học viện Nghiên cứu Y khoa Rockefeller (Rockefeller Institute for Medical Research), nay là Đại học Rockefeller. Trong thời này Sabin bắt đầu chú ý về nghiên cứu y khoa, nhất là về bệnh nhiễm trùng. Năm 1939, Sabin qua Bệnh viện Trẻ em Cincinnati (Cincinnati Children's Hospital) tại Cincinnati, Ý. Trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Sabin là Trung tá trong Bộ Quân y Hoa Kỳ, giúp phát triển những vaccine chống sốt xuất huyết Dengue và viêm não Nhật Bản.


Cũng năm 1939, Salk được trao cho cơ hội tham gia nghiên cứu tại Đại học Michigan, dưới sự giám sát của Tiến sỹ Thomas Francis sau khi giành được học bổng của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia. Hai tháng làm việc tại phòng nghiên cứu của Francis là lần đầu tiên Salk được tiếp xúc với thế giới của virus và lập tức mê đắm. Francis và Salk đã nghiên cứu về nhiều loại thuốc gây bệnh cúm và phát triển, hoàn thiện một loại vaccine cúm cho quân đội Hoa Kỳ, khi ấy đã tham gia Chiến tranh Thế  thứ Hai. Đây cũng là thời kỳ bắt đầu xuất hiện những tranh cãi đầu tiên về Salk.


Năm 1942, Francis và các nhà nghiên cứu khác, trong đó có Salk đã tiêm vaccine thử nghiệm vào các bệnh nhân tâm thần. Sau đó nhóm tiếp tục phun virus gây cúm vào mũi bệnh nhân nhiều tháng sau khi tiêm vaccine để kiểm tra mức độ hiệu quả. Trong điều kiện ngày nay việc này hoàn toàn bất khả thi, nhưng khi ấy hoạt động thử nghiệm như thế được chấp nhận. Người ta không thể biết rõ liệu có bất kỳ bệnh nhân nào có thể ý thức được rằng họ đang trở thành vật thí nghiệm hay không.


Nhìn từ bối cảnh của năm 1942, người ta cũng dễ thông cảm cho kiểu thử nghiệm như thế hơn. Đại dịch cúm 1918 xảy ra trước đó 24 năm vô cùng chết chóc. 500 triệu người trên toàn cầu nhiễm bệnh và trong đó có từ 50 tới 100 triệu người thiệt mạng  tức 3 - 5% quy mô dân số thế giới. Đây là thảm họa tự nhiên chết chóc nhất lịch sử nhân loại. Người ta kinh sợ sẽ có một đại dịch tương tự và muốn ngăn chặn nguy cơ bằng mọi giá.


Salk là người phát hiện và cô lập một biến thể cúm mới và cùng nhóm nghiên cứu phát triển, thêm vào trong loại vaccine cuối cùng năm 1943, là vaccine diệt virus, tức là nó chứa một chủng virus có tác dụng diệt virus không thể gây bệnh nhưng tạo ra các kháng thể có thể ngăn chặn các cuộc tấn công trong tương lai.


Năm 1946, để giữ sự liên hiệp với Bệnh viện Trẻ em, Sabin trở thành giám đốc về Nghiên cứu Nhi khoa tại Đại học Cincinnati. Trong khi bệnh bại liệt càng nguy hiểm, Sabin, cũng như Koprowski và những nhà nghiên cứu khác, tìm kiếm vaccine để tránh hay giảm bớt bệnh này. Để tìm hiểu kỹ hơn Sabin và đồng nghiệp tiến hành khám nghiệm tử thi trên tất cả các trường hợp tử vong ở Cincinnati.


Với kết quả khám nghiệm tử thi thu được ở Cincinnati, Sabin chỉ ra rằng virus bại liệt trước tiên tấn công đường ruột sau đó mới chuyển qua mô thần kinh, tấn công hệ thần kinh trung ương. Sabin đi theo hướng của Koprowski, bắt đầu làm việc với vaccine "sống" và sẽ phát triển thành loại vaccine hiệu quả hơn. Đồng thời, ông nhận thấy vaccine bại liệt uống sẽ vượt trội hơn vaccine bại liệt tiêm, vì sẽ dễ quản lý hơn. Ông bắt đầu phát triển và thử nghiệm nhiều chủng virus ở động vật và nuôi cấy mô. Cuối cùng, ông cũng tìm thấy ba chủng virus đột biến xuất hiện để kích thích sản xuất kháng thể mà không gây tê liệt. 


Năm 1947, sau khi kết thúc thời gian làm việc với Francis, Salk được đề bạt làm việc tại Trường Y thuộc Đại học Pittsburgh để thành lập phòng thí nghiệm nghiên cứu virus. Năm 1949, John Enders, Thomas Weller và Frederick Robbins đã phát hiện ra rằng virus bại liệt có thể được phát triển trong nuôi cấy mô mà không có dây thần kinh. Việc Koprowski thử nghiệm thành công vaccine phòng bệnh bại liệt "sống" đã khiển Salk chuyển sự quan tâm tới virus bại liệt, nhằm tìm kiếm một loại vaccine an toàn và hiệu quả như vaccine cúm mà ông đã từng thành công


Năm 1951, các tổ chức quốc tế xác nhận có ba loại virus bại liệ thoang dã (Wildlife Polio Virus,WPV). Vào thời điểm đó, Salk bị thuyết phục rằng có một nguyên tắc giết chết virus mà ông đã sử dụng để phát triển vaccine cúm sẽ có tác dụng đối với bệnh bại liệt. Đồng thời, ông tin rằng nó sẽ ít nguy hiểm hơn vaccine "sống". Vụ bùng dịch bại liệt lớn năm 1952 khiến Salk càng quan tâm hơn, khi ấy tại Bệnh viện Đại học Pittsburgh có hàng dài xe cấp cứu bên ngoài bệnh viện, có lúc tới 17 chiếc nối đuôi nhau, khi nhiều gia đình đưa con trẻ tới điều trị.


Các bác sỹ làm việc tới kiệt sức, tới nỗi họ ngã lăn ra đất ngủ như chết mỗi khi có cơ hội. Y tá chăm sóc các bệnh nhân thì không có thời gian để về nhà. Muốn rời khỏi khu vực cấp cứu, người ta phải đi qua nhiều phòng bệnh, sẽ nghe thấy tiếng một đứa trẻ đang khóc nỉ non, đòi người ta đọc thư cho nó nghe, hoặc cho nó uống nước, hoặc hỏi vì sao nó không thể cử động tay chân. Những âm thanh ai oán khiến người ta khó có thể ngó lơ khi đi qua. Bầu không khí quánh đặc lại vì nỗi đau, cảm giác sợ hãi tột độ và sự tức giận vì bất lực. 


Salk quyết định đi theo hướng nghiên cứu dùng mẫu virus đã bị tiêu diệt, không còn khả năng lây nhiễm nữa để tạo vaccine nhằm kích thích cơ thể tạo miễn dịch, dù bị nhiều người khuyên không nên. Đồng thời Salk viết nhiều bài báo khoa học và lý thuyết về virus bại liệt, cũng như lợi ích của vaccine làm từ virus không hoạt động. Khác với Koprowski, nghiên cứu của Salk thu hút được sự chú ý của Quỹ Phòng chống Bệnh liệt trẻ em Quốc gia (NFIP), tổ chức từ thiện do một nạn nhân bại liệt phải ngồi xe lăn, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, lập ra để quyên tiền cho hoạt động nghiên cứu thuốc chống bại liệt. NFIP đã cung cấp sự hỗ trợ tài chính rất lớn cho nghiên cứu của Salk. 


Tuy nhiên, Salk gặp khó khăn là phải cần một lượng lớn virus bại liệt để sản xuất vaccine. Bởi vì, virus bị giết sẽ không phát triển trong cơ thể sau khi sử dụng virus sống. Nhờ vào phát hiện của Enders, Weller và Robbins năm 1949, Salk đã phát triển các phương pháp để tăng số lượng lớn của ba loại virus bại liệt trên môi trường nuôi cấy tế bào thận khỉ (tế bào vero line). Cùng đội của mình, Salk dùng phóc-man-đê-hít (formaldehyde, H2CO, còn được biết đến như là mê-ta-nal) để giết chết virus bại liệt nhưng không phá hủy các đặc tính kháng nguyên của nó mà chỉ ức chế hoạt động hóa học. 


Năm 1953 là một năm đỉnh dịch, có 391 bệnh nhân bại liệt mới được đưa tới Bệnh viện Đại học Pittsburgh, gần như toàn bộ là trẻ em, có 323 em bị liệt hoàn toàn. Nặng nhất luôn là các bệnh nhân bị virus tấn công vào khu vực hành tủy não, nơi điều khiển hoạt động hô hấp và nhai nuốt. Thường nạn nhân sẽ tử vong sau thời gian ngắn. Những ai còn sống sót sẽ phải nằm yên trong những chiếc phổi máy to lớn, những cỗ quan tài mà họ phải ở cùng cho tới hết phần đời còn lại.


Sau khi thiết lập các yếu tố an toàn và hiệu quả, đội của Salk tiêm loại vaccine IPV mới vào nhiều tình nguyện viên, gồm bản thân Salk, vợ và các con. Tháng 11/1953, tại một cuộc họp báo ở New York, Salk tuyên bố sẽ chịu trách nhiệm cá nhân cho loại vaccine IPV mà mình tạo ra và cũng thông báo đã tiêm vaccine IPV mới vào những người thân nhất của đời mình, bao gồm vợ con. Theo Salk, sau hai liều vaccine IPV, 90% hoặc hơn nữa số lượng cá thể đã có thể hình thành đủ kháng thể để chống lại 3 típ virus bại liệt và với ít nhất 99% được miễn dịch nếu tiêm tiếp liều thứ 3. 


Do sự lựa chọn của giới chủ Hoa Kỳ, vaccine của Salk được truyền thông ví như tia sáng trong đêm đen kéo dài, còn Salk là vị thánh ban phép lạ cứu vớt những đứa trẻ Mỹ đáng thương! Bệnh bại liệt từng khiến từ 13.000 tới 20.000 đứa trẻ bị liệt mỗi năm trước khi có vaccine của Salk và Salk trở thành gương mặt đại diện cho nỗ lực vượt nghịch cảnh. Nhờ vậy, Salk trở thành nhà khoa học được nhân dân yêu mến nhất tại Hoa Kỳ, thậm chí có thể là nhà khoa học được yêu mến nhất thế giới, nhưng không được lòng cộng đồng khoa học Hoa Kỳ. 


Đồng nghiệp trong giới nói rằng, Salk đã tầm thường hóa sự đóng góp của các nhà khoa học khác, những người thực hiện hàng loạt nghiên cứu tiền đề để vaccine bại liệt có nền móng tốt. Thậm chí, Salk bị cáo buộc đã giảm bớt vai trò của các thành viên trong đội nghiên cứu để nâng cao thành tích của mình. Chưa biết những tranh cãi đó đúng hay sai, nhưng có một thực tế là Salk thường xuyên bị từ chối gia nhập Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, cũng chưa từng được trao giải Nobel. Điều này phần nào cho thấy thái độ của cộng đồng khoa học với Salk.


Trong khi đó, dù không được giới chủ Hoa Kỳ quan tâm nhưng Koprowski và Sabin tiếp tục công việc nghiên cứu vaccine "sống" trong suốt thập niên 1950. Koprowski đi tiên phong trong việc tạo ra những cuộc thử nghiệm vaccine "sống" trên quy mô lớn tại vùng Belgian Congo (Congo thuộc Bỉ) ở Châu Phi. Sau này, Koprowski làm Giám đốc Viện Wistar trong thời gian Viện này phát minh ra vaccine phòng bệnh rubella.


Năm 1954, vaccine bại liệt "sống" vẫn không được thử nghiệm ở Hoa Kỳ và bệnh bại liệt vẫn tiếp tục gây hại cho nhiều đứa trẻ Mỹ hơn bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào khác dù đã có .vaccine "chết" của  Salk. Vào thời điểm ấy, ở tuổi 40, nhờ lăng xê của truyền thông Salk đã giống như một đấng cứu thế trong mắt người Mỹ. Với hy vọng của công chúng đè nặng trên vai, Salk làm việc 16 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, để hoàn thiện vaccine mới.


Cuộc thử nghiệm trên diện rộng vaccine của Salk là một chương trình quy mô nhất trong lịch sử Hoa Kỳ khi ấy, có sự tham gia của 20.000 bác sỹ và nhân viên y tế, 64.000 nhân viên trường học và 220.000 tình nguyện viên. Hơn 1.800.000 đứa trẻ đã tham gia thử nghiệm. “Khi bạn tiêm vaccine bại liệt cho một đứa trẻ, bạn sẽ không ngủ ngon trong hai hoặc ba tháng” - Salk nói về cảm giác của mình khi ấy.


Những nỗ lực và cố gắng cuối cùng đã được đền đáp, ngày 12/4/1955, Tiến sỹ Francis tuyên bố vaccine của Salk được xác nhận là an toàn và hiệu quả. Salk nhận được báo cáo rằng vaccine bại liệt "chết" do ông tạo ra là an toàn, mạnh mẽ và hiệu quả đạt tới 90% trong việc bảo vệ chống lại bệnh bại liệt. Chuông ngân vang trên khắp nước Mỹ, vô số bậc phụ huynh và giáo viên đã chảy nước mắt vì từ nay trẻ con không còn phải sống trong sợ hãi nữa. 


Cùng ngày hôm đó, nhà báo lừng danh Edward R. Murrow hỏi Salk rằng ai nắm bản quyền vaccine bại liệt. “Chà, tôi có thể nói đó là nhân dân”, Salk trả lời, “Không có bản quyền nào cả. Liệu anh có thể đăng ký bản quyền mặt trời không?”. Vaccine "chết" của Salk nhanh chóng được đón nhận trên toàn nước Mỹ và do như đã nói, Salk dành bản quyền vaccine "chết" của ông cho nhân loại, nên Liên Xô cũng thử áp dụng phương pháp của Salk. 


Cùng năm 1955, Koprowski và Sabin trình nghiên cứu của họ tại Thụy Điển và Viện Nghiên cứu tủy xương được thành lập tại Liên Xô do nhà vi trùng học và nhà virus học Xô-viết dày dạn kinh nghiệm Миха′ил Петр′ович Чумак′ов (Mikhail Petrovich Chumakov, ảnh 4) đứng đầu. Ngay từ thời còn trẻ, Chumakov đã bị mắc căn bệnh viêm não truyền nhiễm nên mất thính giác và liệt tay phải, nhưng điều này không ngăn cản ông tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu virus và tìm cách chống lại chúng.


Bất chấp Chiến tranh Lạnh và cuộc đối đầu chính trị giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, các nhà khoa học của hai nước vẫn quyết định hợp tác. Chumakov đã gặp và nói chuyện với tác giả của cả 2 loại vaccine Hilary Koprowski - Albert Sabin và Jonas Salt. Sabin đã thuyết phục Bộ Y tế Liên Xô thử nghiệm vaccine "sống", sau đó các nhà khoa học Hoa Kỳ đã vượt qua mọi thủ tục để cung cấp cho  Liên Xô những chủng virus cần thiết để tiến hành sản xuất vaccine "sống" phục vụ các thử nghiệm ở  Liên Xô, còn Koprowski - Sabin thì thử nghiệm ở México, bởi khi ấy Chính phủ Hoa Kỳ vì lý do nào đó đã chấp nhận vaccine của Salk là công cụ dập dịch chủ đạo.


Tại Hoa Kỳ, dữ liệu lưu trữ cho thấy năm 1955 có khoảng 20.000 ca nhiễm virus bại liệt, trong vòng 2 năm, hoạt động sản xuất và tiêm hàng loạt loại vaccine "chết" của Salk đã đẩy số ca nhiễm xuống dưới 6.000. Tuy nhiên, trên cơ sở các chủng virus của Salk, Chumakov và các nhà khoa học Liên Xô đã chứng minh vaccine "chết" của Salk không được như truyền thông phương Tây mô tả. 


Nó không thật hiệu quả và tốn kém, phải tiêm ít nhất hai lần nhưng hiệu quả thì rất thấp, còn xa mới được 1%. Nó có hiệu lực để tránh phần nhiều triệu chứng của bệnh bại liệt, nhưng không ngăn ngừa được các nhiễm trùng đường ruột đầu tiên, điều mà Sabin đã chứng minh trước đó. 


Trên cơ sở các chủng virus của Koprowski - Sabin, Chumakov trở nên nổi tiếng nhất sau khi Liên Xô thực hiện các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, cho ra phương án tốt nhất, quy trình chế tạo an toàn nhất, sản xuất thành công vaccine "sống", trên thực tế đã chứng tỏ có hiệu quả ngay sau đó khi thử nghiệm, dẫn đến việc cấp phép cho vaccine "sống" dạng uống Koprowski - Sabin. Vì vaccine dành cho phần lớn trẻ em, nên Chumakov đưa ra vaccine dưới dạng kẹo nên không cần phải tiêm.


Cùng năm 1957, Sabin phát triển một liều vaccine "sống" dựa trên phương thức uống, gồm các biến thể suy yếu của cả ba loại virus bại liệt và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thử nghiệm trên khắp thế giới với nhiều trẻ em ở Liên Xô, Hà Lan, México, Chile, Thụy Điển và Nhật Bản được uống. 


Đến năm 1959 thì vaccine của Salk đã xuất hiện ở 90 quốc gia, giúp tỷ lệ mắc bệnh bại liệt giảm mạnh ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Còn Liên Xô với sự trợ giúp của vaccine kẹo đã nhanh chóng ngăn chặn một đợt dịch bệnh bại liệt bùng phát cấp tính ở các nước Cộng hòa vùng Baltic, cũng năm 1959.


Nhà khoa học Albert Sabin viết thư chúc mừng thành công của Liên Xô trong chiến dịch chống lại bệnh bại liệt quy mô và nhanh chóng, gọi đùa Chumakov là "Tướng Chumakov". Sau đó, vaccine kẹo được triển khai dùng trên quy mô toàn Liên Xô. Trong khi đó, những năm 1958 - 60, Koprowski đã chủng vaccine "sống" cho 7 triệu trẻ em ở Ba Lan để chống lại các típ virus PV1 và PV3. 


Tại Việt Nam, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị các nước Xã hội Chủ nghĩa giúp đỡ y tế từ thời Kháng chiến chống Pháp và đạt được nhiều tiến bộ về vệ sinh dịch tễ trong kế hoạch năm năm đầu tiên sau Hòa bình lập lại trên miền Bắc 1954, nhưng cũng giống như các nước khác vào thời gian này, như bài trước đã nói, có tới 17 ngìn người mắc bệnh bại liệt và 500 người tử vong. Hàng ngìn trẻ em bị di chứng bại liệt suốt đời, tỷ lệ mắc lên đến trên 126/100 ngìn dân. 


Trước thành công của Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đề nghị Liên Xô giúp đỡ, trước tiên là vaccine chống dịch trước mắt, sau đó là kỹ thuật nền tảng về lâu dài để các nhà khoa học non trẻ của ngành y học Việt Nam tự sản xuất vaccine uống ngọt ngào để chủ động phòng chống bại liệt như đã nói.


Cũng trong giai đoạn đó, tình hình dịch bại liệt ở Nhật Bản không tồi tệ như ở nhiều nước khác, ghi nhận chỉ vài nghìn ca mỗi năm. Vì vậy, Chính phủ Nhật Bản và giới dịch tễ có phần chủ quan, tin tưởng số lượng khiêm tốn vaccine "chết" của Salt nhập khẩu từ Hoa Kỳ là đủ giải quyết vấn đề. 


Họ phải trả giá khi đầu năm 1960 dịch bại liệt bùng phát tại Nhật Bản trong khi lượng dự trữ vaccine "chết" Salk không đủ tiêm chủng quy mô lớn trong khi hiệu quả của chúng, như đã nói, là rất thấp. Hàng đoàn người dài xếp hàng tại các điểm tiêm chủng, những phụ nữ lo lắng ôm con trên tay, những đứa trẻ lớn hơn đứng cạnh bố mẹ. Nhiều bà mẹ phẫn nộ, lo sợ cho số phận của con mình. 


Nhưng giới chức Nhật Bản không vội vàng quan tâm đến vaccine “sống” Koprowski - Sabin - Chumakov mặc dù đã nhận thấy hiệu quả từ đợt thử nghiệm của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1957, bởi họ trung thành với Hoa Kỳ, họ còn bận thu xếp các hợp đồng cung cấp vaccine "chết" Salk với các công ty Hoa Kỳ và Canada. Điều này làm bùng lên sự bất mãn dẫn đến các cuộc biểu tình trên khắp cả nước, một số cuộc biểu tình kéo dài cả tháng trên đường phố và vây quanh Bộ Y tế. 


Cùng với các cuộc biểu tình, các cuộc nghiên cứu vẫn đang tiến hành. Trong lúc đó, tháng 12/1960 nhà khoa học từ Hiệp hội Y khoa Nhật Bản Masao Kubo đã có chuyến thăm tới Mát-xcơ-va, chứng kiến độ tin cậy của vaccine “sống” được sản xuất tại Liên Xô cũng như giá thấp hơn so với các nước khác. Như vậy, Chính phủ Nhật có ít lý do để từ chối nhập khẩu chúng hơn.


Sang năm 1961, phong trào phản đối mạnh mẽ trên toàn quốc đã hình thành, quy tụ các bậc cha mẹ, các bác sỹ và nhà hoạt động chính trị uy tín. Tất cả họ đều đòi hỏi mua vaccine “sống” từ Liên Xô và tiến hành chủng ngừa hàng loạt. Như nhà nghiên cứu Izumi Nishizawa ghi nhận, điều này góp phần chuyển hướng ý tưởng vaccine “cho con tôi” sang vaccine “cho tất cả trẻ em” trong nước Nhật. “Chúng tôi yêu cầu cung cấp vaccine 'sống' càng sớm càng tốt! Mỗi ngày, trẻ em bị ám ảnh bởi một loại virus vô hình. Bạn chưa có con? Nghiên cứu tương ứng chả phải đã được thực hiện ở nước ngoài rồi sao? Đây không phải là lý do công ty dược phẩm không hài lòng hay sao?". 


Ngày 19/6/1961 xảy ra cuộc biểu tình rầm rộ khiến cảnh sát không thể ngăn cản các bà mẹ ở Tokyo xông vào tòa nhà Bộ Y tế đưa yêu sách mua vaccine “sống” từ Liên Xô.


Ngày 22/ 6, Bộ Y tế đầu hàng. Sau đó, có thông báo rằng Liên Xô sẽ cung cấp cho Nhật 13 triệu liều vaccine "sống", qua trung gian công ty dược Iskra Industry của Nhật Bản. Việc giao hàng được tổ chức nhanh chóng. Nhà báo Mikhail Efimov, người đứng đầu Cục Thông tấn ở Nhật Bản viết: "Đám đông hàng ngàn người ra tận sân bay để chào đón máy bay chở vaccine của Hãng hàng không Aeroflot".


Việc chủng ngừa bại liệt ở Nhật Bản nhanh chóng mang lại kết quả: đến mùa thu, dịch bệnh bại liệt giảm dần, những trẻ em Nhật bị ảnh hưởng sau dịch bại liệt được mang kẹp nắn xương ống chân của Liên Xô. Sau một vài năm căn bệnh này đã thực sự bị xóa sổ tại Nhật. Người Nhật Bản thế hệ đó cảm ơn vì điều này, họ cảm ơn các nhà khoa học Mỹ gốc Ba Lan Hilary Koprowski - Albert Sabin, họ cảm ơn nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, chứ không cảm ơn bác sỹ người Mỹ gốc Do Thái Jonas Salk. Các bạn sẽ khó tìm được thông tin này trên truyền thông phương Tây, có thể tìm kiếm dễ hơn nếu biết tiếng Nga https://yandex.ru/search/?text=Как+СССР+помогал+вакцинировать+японцев


Sau những thành công trên khắp thế giới, cuối cùng vaccine "sống" của Koprowski - Sabin - Chumakov cũng được Vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ (United States Public Health Service) phê chuẩn sản xuất thương mại tại Hoa Kỳ năm 1961. Đây là sáng kiến dẫn đến loại trừ dịch bệnh bại liệt khỏi nước Mỹ, nhưng cũng phải đến hơn 30 sau mới thành công. Đồng thời Tổ chức Y tế Thế giới cũng dùng vaccine "sống" được sản xuất tại Liên Xô làm tiêu chuẩn chung của thế giới để phòng ngừa bại liệt.


Do dễ sản xuất, giá thành rẻ nên vaccine "sống" Sabin nhanh chóng thay thế vaccine "chết" do Salk chế ra tại Hoa Kỳ. Dù vaccine "chết" của Salk không còn được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ nhưng nhờ quảng cáo của giới chủ Hoa Kỳ, người Mỹ vẫn ghi nhận công lao to lớn của ông trong việc ngăn chặn nỗi kinh hoàng mà bệnh bại liệt gây ra với người Mỹ, trước khi vaccine của ông được thay thế bởi vaccine "sống" Sabin.


Tại  Việt Nam, dịch bệnh bại liệt cũng đã giảm nhờ vaccine "sống" Liên Xô. Đến năm 1961, tỷ lệ mắc bại liệt giảm còn 3,09/100 nghìn dân. Bước thứ hai là tự sản xuất vaccine "sống" Koprowski - Sabin - Chumakov để chủ động chống bại liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý đặc biệt chương trình này, nhắc nhở ngành Y coi Liên Xô là thầy. Trước trọng trách Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng Y tế rất quyết tâm trong chỉ đạo. 


Năm 1962, những lô vaccine phòng đậu mùa và bại liệt Việt Nam gắn với tên tuổi bác sỹ trẻ Hoàng Thủy Nguyên chính thức xuất xưởng. Những năm sau đó, tỷ lệ người dân mắc bại liệt giảm rõ rệt. Chương trình trở thành biểu tượng hòa bình trong Kháng chiến chống Mỹ.


Tiếp sau vaccinephòng đậu mùa và bại liệt, Việt Nam phát triển vaccine phòng bệnh tả uống, từ công nghệ được Thụy Điển chuyển giao. Từ những bước chân khai phá đầu tiên của bác sỹ Hoàng Thủy Nguyên, bằng nỗ lực không ngừng nghỉ, các nhà khoa học trẻ Việt Nam liên tục nghiên cứu, sản xuất hơn mười loại vaccine khác ở những thời điểm đáng nhớ.


Lợi ích của tiêm chủng tại Việt Nam là vô cùng lớn, chương trình Tiêm chủng Mở rộng đã được Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những chương trình y tế công cộng hiệu quả và thành công nhất ở Việt Nam. Đó là một trong những đóng góp lớn lao của ngành Y tế Dự phòng vì những thế hệ giống nòi Việt Nam khỏe mạnh.


Việt Nam đã thanh toán bệnh đậu mùa vào năm 1978, trước thế giới hai năm. Nó đã cho Việt Nam sự tự tin để theo đuổi việc khống chế, đẩy lùi và thanh toán nhiều dịch bệnh nguy hiểm như bệnh bại liệt, một số bệnh dịch đã giảm số người nhiễm hàng trăm đến hàng nghìn lần so với những năm trước khi có Chương trình Tiêm chủng Mở rộng như bạch hầu, ho gà, sởi... Nhiều bệnh dịch lưu hành khác có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn, như: sốt xuất huyết, viêm não virus, lao, thương hàn, tả đã được khống chế; không gây thành các dịch lớn, hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong.


Xóa sổ bệnh bại liệt là mục tiêu của một nỗ lực y tế công cộng đa quốc gia nhằm loại bỏ vĩnh viễn tất cả các trường hợp nhiễm bệnh bại liệt trên toàn thế giới, cùng với bệnh giun chỉ (Dracunculiasis hoặc Guinea-worm disease), bắt đầu từ năm 1988, khi đó trên thế giới có 350.000 ca nhiễm bại liệt hoang dã tại hơn 125 quốc gia, do Chính phủ các nước dẫn dắt cùng 3 đối tác: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Quỹ Rotary International, trên cơ sở việc xóa sổ thành công hai bệnh trước đó http://www.worldwatch.org/node/1644 


Cho đến nay, theo Tổ chức Y tế Thế giới công bố, mới chỉ có bệnh đậu mùa đã được loại bỏ hoàn toàn trên thế giới, sau Việt Nam hai năm, vào năm 1980 http://www.who.int/mediacentre/factsheets/smallpox/en/ và bệnh dịch tả trâu bò năm 2010 https://www.bbc.co.uk/news/science-environment-11542653 Từ năm 1990, tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới một tuổi được uống đủ ba liều vaccine phòng bại liệt ngọt ngào tự sản xuất trong nước từ năm 1962 được duy trì trên 90%, là tiền đề để Việt Nam thanh toán bệnh bại liệt năm 2000.


Những nỗ lực bất chấp khoảng cách chính trị của Koprowski, Sabin, Chumakov và những người như các ông cuối cùng đã khiến bệnh bại liệt bị tiêu diệt ở Bắc Mỹ năm 1994 và tại Nam Mỹ cùng nhiều quốc gia khác sau đó. Từ năm 1996, Chính phủ các nước và các tổ chức phi lợi nhuận đã hợp tác thực hiện các chiến dịch tiêm chủng kéo dài tại Châu Phi nhằm đẩy lùi virus bại liệt. Ngoài các tổ chức đã nói trên còn có Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (US. CDC) và Quỹ Bill & Melinda Gates (BMGF) tham gia chiến dịch thông qua Sáng kiến Xóa bỏ Bại liệt Toàn cầu (GPEI). 


Cũng với Việt Nam năm 2000, bệnh bại liệt được tuyên bố đã loại bỏ chính thức ở 37 quốc gia phía tây Thái Bình Dương, bao gồm cả Trung Quốc và Úc. Từ năm 2002 Việt Nam không còn bệnh dịch hạch và Châu Âu cũng tuyên bố không còn bệnh bại liệt. Tuy nhiên, đến nay Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ vẫn khuyến cáo tiêm vaccine bại liệt nhắc lại cho khách du lịch và những người sống tại các quốc gia có dịch bệnh. Trong khi bệnh này hiếm gặp tại các nước phương Tây thì Nam Á và Châu Phi là nơi có các ca bệnh nhiều nhất, đặc biệt là Pakistan, Afghanistan và Nigeria.


Những năm 2000 - 2001, Việt Nam chuyển giao miễn phí công nghệ sản xuất vaccine phòng bệnh tả uống cho Viện Vaccine Nam Triều Tiên và từ đó một công ty của Ấn Độ đã có bản quyền sản xuất vaccine tả uống xuất khẩu khắp thế giới. Đến năm 2005, Việt Nam loại trừ uốn ván sơ sinh.


Cuối năm 2003, đại dịch cúm gia cầm xảy ra ở các nước trong khu vực mà Việt Nam là điểm nóng, hàng triệu gia cầm bị chết và bị tiêu hủy, thiệt hại lên tới hàng nghìn tỷ đồng, nhiều trường hợp cúm gia cầm A/H5N1 lây sang người với triệu chứng lâm sàng trầm trọng, tỷ lệ tử vong cao. Sau hai năm dịch bệnh xuất hiện, biện pháp phòng bệnh bằng vaccine mới được chấp nhận và nguồn thuốc chủ yếu nhập từ các doanh nghiệp của Trung Quốc. Tuy nhiên, vaccine nhập từ Trung Quốc có hạn chế với một số biến chủng của virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam, số liều đóng gói rất lớn (500 liều/lọ), không thích hợp với điều kiện chăn nuôi gia cầm ở nước ta.


Trước thực trạng trên, từ kết quả của đề tài độc lập cấp Nhà nước Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất vaccine cúm A/H5N1 cho gia cầm giai đoạn 2006 - 2008, Giáo sư Tiến sỹ Lê Trần Bình và Phó Giáo sư Tiến sỹ Đinh Duy Kháng - Viện Công nghệ Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) kết hợp với Tiến sỹ Trần Xuân Hạnh - Công ty cổ phần thuốc Thú y Trung ương (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) triển khai sản xuất vaccine để dập tắt dịch bệnh này. Đây là vaccine cúm đầu tiên do Việt Nam tự nghiên cứu và được công ty Công ty Cổ phần Thuốc thú y Trung ương sản xuất với tên thương phẩm NAVET-VIFLUVAC, được đánh giá có chất lượng tốt, được trao Giải thưởng Trần Đại Nghĩa năm 2019.


Từ tháng 1/2011, không có ca nhiễm bệnh bại liệt nào được báo cáo ở Ấn Độ, từ đó virus bại liệt hoang dã chỉ còn phổ biến ở 3 quốc gia: Nigeria, Pakistan và Afghanistan mặc dù nó tiếp tục gây bệnh ở các quốc gia lân cận do sự truyền nhiễm ẩn hoặc tái phát. Ví dụ, thay vì loại bỏ 10 năm trước, bại liệt  tái phát ở Trung Quốc vào tháng 9/2011 liên quan đến dòng truyền bệnh chính từ những người láng giềng Pakistan.


Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nếu không có ca bệnh bại liệt tự nhiên nào được thông báo ở một quốc gia trong vòng 2 năm, thì quốc gia đó sẽ là nước không còn bệnh bại liệt và vào tháng 2/2012, Ấn Độ được đưa ra khỏi danh sách các nước có bệnh bại liệt nhiều. Năm này chỉ có 223 ca nhiễm bệnh bại liệt ở năm quốc gia. Chỉ còn Afghanistan, Nigeria và Pakistan là chưa bao giờ làm gián đoạn việc truyền virus bại liệt hoang dã.


Sau nhiều nỗ lực, năm 2015 là năm đáng ghi nhớ của ngành sản xuất vaccine của Việt Nam khi được Tổ chức Y tế Thế giới cấp Chứng nhận Hệ thống Quản lý Quốc gia về vaccine (NRA). Thời điểm đó, Việt Nam được đánh giá là một trong 45 quốc gia có ngành công nghiệp vaccine và là một trong 39 quốc gia đạt NRA. 


Chưa đầy một năm sau, năm 2016, Việt Nam đã đánh dấu mốc quan trọng trên bản đồ các quốc gia sản xuất vaccine khi tự sản xuất được vaccine 2 trong 1 -  phối hợp phòng sởi - rubella (MR) chất lượng cao ứng dụng công nghệ Nhật Bản, trở thành một trong 25 quốc gia sản xuất được vaccine trên thế giới và là nước thứ tư tại Châu Á có thể sản xuất vaccine MR sau Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc. Tại thời điểm này, trường hợp bại liệt cuối cùng ở Châu Phi được ghi nhận tại Nigeria, căn bệnh chỉ còn lại ở hai nước Afghanistan và Pakistan.


Từ tháng 3/2018, vaccine MR Việt Nam đã được tiêm với quy mô nhỏ bốn tỉnh ở bốn miền khác nhau, sau đó từ tháng 4, vaccine MR Việt Nam được dùng trên quy mô toàn quốc cho trẻ từ 18 tháng tuổi trong Tiêm chủng Mở rộng. Ông Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng khi đó đã nhấn mạnh, việc đưa vaccine MR Việt Nam vào Tiêm chủng Mở rộng là cần thiết vì dân số Việt Nam đông, giúp giảm chi phí khi không phải nhập ngoại vaccine MR. Đồng thời, bảo đảm an ninh về vaccine, không bị thụ động vào nguồn vaccine nhập ngoại, phủ được rộng hơn cho đối tượng 18 tháng tuổi và những vùng nguy cơ.


Năm 2018 cũng đánh dấu thành tựu lớn tiếp theo của ngành y tế Việt Nam - sản xuất thành công vaccine cúm mùa 3 trong 1 gồm cúm A/H1N1/09, A/H3N2, cúm B và vaccine cúm tiền đại dịch A/H5N1. Đây là loại vaccine cúm đầu tiên do Việt Nam sản xuất góp phần chủ động phòng chống dịch bệnh, giảm chi phí. Dự án sản xuất vaccine sởi do Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất Vaccine và Sinh phẩm Y tế, Bộ Y tế (POLYVAC) thực hiện, đã hoàn thiện quy trình sản xuất vaccine sởi, vaccine phối hợp sởi - rubella và sản xuất thành công vaccine chất lượng cao đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ chức Y tế Thế giới, được nhận giải thưởng của Chủ tịch Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).


Hiện Việt Nam là một trong 14 quốc gia được Tổ chức Y tế Thế giới đặt hàng vaccine cúm (chủng virus H1N1, H3N2 và B) phục vụ phòng chống đại dịch trên thế giới. Viện Vaccine và Sinh phẩm Y tế ở Nha Trang (IVAC) đang nghiên cứu vaccine cúm và vaccine 5 trong 1, được đưa vào Chương trình Sản phẩm Quốc gia nghiên cứu. Chúng ta tiến tới sản xuất vaccine đa giá, các loại vaccine nhiều kháng nguyên để trẻ em đỡ phải tiêm nhiều mũi, tránh hiện tượng bỏ mũi tiêm ở trẻ nhỏ. Đằng sau kết quả này là nỗ lực to lớn của rất nhiều nhà khoa học đã âm thầm nghiên cứu trong nhiều năm dài.


Cũng năm 2018, Tổ chức Y tế Thế giới báo cáo số ca nhiễm bại liệt hoang dã lan từ người sang người chỉ còn ở Afghanistan và Pakistan với tổng số 33 ca, giảm đáng kể so năm 1988 https://extranet.who.int/polis/public/CaseCount.aspx nhưng có tới 104 ca bại liệt từ vaccine   "sống" Hoa Kỳ do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ.  Năm 2019 bại liệt hoang dã tăng lên 175 ca và bại liệt từ vaccine tăng lên 364 ca http://polioeradication.org/polio-today/polio-now/this-week/


Thế giới đã tiến gần đến mức diệt trừ bệnh bại liệt, ngày 28/8/2020, Ủy ban Chứng nhận Khu vực Châu Phi về xóa sổ Bại liệt của cơ quan y tế Liên Hợp Quốc  tuyên bố rằng bệnh bại liệt hoang dã đã bị xóa sổ ở Châu Phi sau bốn năm không ghi nhận ca nhiễm mới. Từ năm 1996, các nỗ lực xóa sổ mầm bệnh đã bảo vệ tới 1,8 triệu trẻ em và cứu sống khoảng 180.000 người với gần 9 tỷ liều vaccine bại liệt đã được phân phối.


Tổ chức Y tế Thế giới cho hay: "Virus bại liệt có nguồn gốc từ vaccine trong quá khứ đã nhanh chóng bị tiêu diệt sau khoảng 3 đợt chủng ngừa chất lượng cao. Giải pháp cho tất cả các đợt bùng phát bại liệt là giống nhau: chủng ngừa cho mọi trẻ em nhiều lần bằng vaccine dạng uống nhằm ngăn chặn bệnh lây lan, bất kể nguồn gốc của virus là gì". Tuyên bố này hé mở cho thấy hiệu quả của vaccine từ Hoa Kỳ do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ và Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ. 


Tuy nhiên, ngay sau đó chỉ một tuần, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết một đợt dịch bại liệt tái bùng phát ở Đông Bắc Châu Phi, bắt nguồn từ vaccine đường uống. Đây là thất bại nặng nề trong nỗ lực xóa bỏ căn bệnh của con người lần thứ hai trong lịch sử - lần đầu tiên là bệnh đậu mùa. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới báo cáo về hai trẻ ở Sudan, một từ bang Nam Darfur, một ở bang Gedarif, gần biên giới với Ethiopia và Eritrea, đều được uống vaccine phòng ngừa bại liệt trước đó đã mắc bệnh bại liệt. Theo tổ chức, các đợt bùng phát có liên quan đến chương trình chủng ngừa tại nước Cộng hòa Sát (Chad), lây sang Sudan thành dịch lớn, và khi tổ chức công bố ngày 2/9, dịch đã lan rộng đến Cameroon https://www.unicef.org/sudan/press-releases/unicef-who-support-sudan-efforts-close-vaccine-derived-polio-outbreak 


Tổ chức Y tế Thế giới cũng phát hiện 11 trường hợp bại liệt có nguồn gốc từ vaccine ở Sudan, tìm thấy virus trong mẫu môi trường. Dự báo còn khá nhiều bệnh nhân khác chưa được báo cáo, bởi virus có thể lan truyền khá nhanh trong nguồn nước ô nhiễm, ảnh hưởng đến trẻ em dưới 5 tuổi. Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra giải thích rằng vùng này đang có nạn đói, nhiều trẻ em suy kiệt. Những em này đã không chống đỡ được virus làm yếu trong vaccine.


Có ba loại virus bại liệt hoang dã: 1, 2 và 3. Vaccine được sử dụng phổ biến nhất là vaccine bại liệt đa trị (OPV Sabin cải tiến) tạo ra khả năng miễn dịch ở niêm mạc (mô mềm) của ruột đối với cả ba loại, ngăn chặn virus xâm nhập vào máu. Nhưng vaccine đơn trị mới được phát triển có hiệu quả hơn tạo ra khả năng miễn dịch chống lại một loại duy nhất.


Nhược điểm là trong những trường hợp hiếm hoi, virut vaccine sống biến đổi thành dạng tê liệt, được bài tiết từ ruột và có thể lưu hành trong các cộng đồng nơi khả năng miễn dịch thấp. Đây được gọi là viêm đa cơ có nguồn gốc từ vắc-xin lưu hành và là lý do tại sao hầu hết các nước phát triển như Úc đã chuyển sang vắc-xin bại liệt bất hoạt (IPV). Vắc-xin tiêm này gây miễn dịch trong máu nhưng không phải trong ruột. Thực tế, virus bại liệt sống trong vaccine uống có thể biến đổi thành dạng đủ khả năng lây nhiễm, làm bùng phát các đợt dịch mới. 


Thế nhưng chưa phải đã hết, vào ngày 17/10, thêm 22 trường hợp bị tê liệt cấp tính, một triệu chứng đặc trưng của bệnh bại liệt lâm sàng, được báo cáo từ tỉnh Deir Al Zour, Syria. 180 trường hợp mắc bệnh bại liệt nữa được báo cáo trong năm 2020 tại các khu vực do quân Hồi giáo Al Shabab kiểm soát ở Somalia, nơi đã cấm tiêm chủng. Sự bùng phát đã tràn sang các nước láng giềng với 14 trường hợp ở Kenya và bảy ở Ethiopia. Trên toàn thế giới, đã có 332 trường hợp trong năm 2020 - cao hơn gần 50% so với tổng số năm 2019 https://www.unicef.org/sudan/press-releases/unicef-who-support-sudan-efforts-close-vaccine-derived-polio-outbreak


Chủng virus tóm được là vaccine-derived poliovirus type 2 cVDPV2, không phải hoang dã tự nhiên mà có nguồn gốc từ vaccine "sống" Hoa Kỳ do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ https://www.newagebd.net/article/117757/gates-foundation-vaccine-spreads-polio-across-africa 


Truyền thông phương Tây đăng những bài lấp liếm, nhưng nó cũng không thể né nói ra sự thật về cái Quỹ Bill & Melinda Gates https://www.theguardian.com/global-development/2020/sep/02/vaccine-derived-polio-spreads-in-africa-after-defeat-of-wild-virus thứ mà có quá nhiều tin tức về việc nó lợi dụng tài trợ để tiến hành các nghiên cứu mờ ám tại Châu Phi.


Ngày nay đã có nhiều những phương pháp làm yếu virus chính xác hiệu quả, như ở mức gen do Nga làm, cũng như rất nhiều phương tiện nghiên cứu. Khi có dịch mới thì người ta đồng loạt thử nghiệm nhiều phương pháp làm yếu, nhanh chóng cho ra vaccine hiệu quả cao.


Nhưng vaccine "sống" Sabin mà Hoa Kỳ sản xuất dưới sự tài trợ của Quỹ Bill & Melinda Gates đã quá lạc hậu, vẫn dậm chân ở thời điểm 1961, còn chưa bằng vaccine "sống" Việt Nam năm 1962. Theo như giải thích của Tổ chức Y tế Thế giới, khi cơ thể không chống đỡ được virus làm yếu trong vaccine Bill & Melinda Gates thì virus phát triển, do chúng không được làm yếu theo phương pháp hiện đại, nên chỉ cần chúng nhân bản được thì chúng khỏe mạnh như virus thường chưa hề được làm yếu, thế là vaccine "sống" Bill & Melinda Gates biến thành virus gây bùng nổ dịch.


Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận nguy cơ bại liệt lây lan rộng hơn là khá cao, chủ yếu do mật độ di chuyển của người dân trong khu vực. Hơn 10 quốc gia châu Phi đang chống chọi với căn bệnh này, bao gồm Angola, Congo, Nigeria và Zambia. Bại liệt hoang dã vẫn còn lưu hành ở Afghanistan và Pakistan và cả hai quốc gia cũng phải vật lộn để ngăn chặn chủng bệnh có nguồn gốc từ vaccine.


Tình trạng vaccine "sống" Bill & Melinda Gates biến thành virus gây bùng nổ dịch bại liệt đang được tái hiện trong bối cảnh đại dịch #Covid hiện nay, khi mà các vaccine do phương Tây phát triển được cấp phép khẩn cấp đang chứng minh khả năng của nó!


Tham khảo:

http://www.historyofvaccines.org/content/timelines/polio

http://www.foto-volos.ru/kak-sssr-pomogal-vakczinirovat-yaponczev/

Nguồn: Giải độc thông tin, tiêu đề là của Sưu tầm

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2021

MỸ QUAY VỀ VỚI CÁI MÁNG LỢN CŨ?

Đoạn video 1 đăng trên mạng xã hội TQ, do ng dân ở Bắc Kinh quay chụp, một tên lửa siêu thanh bay ngang bầu trời vào buổi chiều tối hôm mùng 2 tháng 9.


Nó để lại vệt đuôi dài, thẳng tắp nhìn giống như một thiên thạch lao vào bầu khí quyển. Nhưng là tên lửa bay rất nhanh. Đối chiếu các nguồn tin thì có thể đây là loại tên lửa tốc độ cao kiểu mới của TQ, được phóng từ bãi thử Vũ Hải tỉnh Sơn Tây. Nó bay về hướng Tây đến vùng xa mạc Takla Makan - Tân Cương.


Việc TQ đang chạy đua giành ưu thế kho vũ khí chiến lược với Mỹ đã được biết đến từ lâu. Tên lửa chiến lược với tốc độ lên tới hàng chục M khiến cho việc đánh chặn là không thể. Hiện tại mới chỉ có Nga được trang bị các tên lửa mới kiểu này. Và nếu như có thêm TQ, thì kẻ thực sự phải lo lắng là người Mỹ.

***



Đoạn video 2: tên lửa vệ tinh Mỹ Alpha phát nổ. Video đăng hôm 3 tháng 9.


Điều đáng nói không phải là vụ phóng thất bại, mà là công ty Mỹ Firefly Aerospace – một công ty tư nhân, hiện đang có trong tay HĐ phóng vệ tinh gần $100 triệu đô với NASA. 


Được thành lập năm 2014, theo kiểu khởi nghiệp A-ma-tơ và kêu gọi vốn. Ngay sau đó, công ty bị vô số kiện cáo đánh cắp và chiếm đoạt thiết kế, cũng như phá hủy chứng cứ.  


Cho đến 2017, chưa phóng được tên lửa nào thì Firefly Aerospace phá sản khiến các nhà đầu tư kêu trời.  


Cùng năm 2017, tài sản của Firefly Aerospace bị đem bán đấu giá được độ 1 tr đô. Thế nhưng công ty khởi nghiệp này không chết mà sống lại 1 lần nữa.


Năm 2018, Firefly Aerospace mở Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Ukraine. Dù không công bố, nhưng dường như là họ tìm mua được một thiết kế cũ nào đó của tên lửa đẩy Liên Xô và Maxim Polyakov, 1 người Ukraine bây giờ là cổ đông sáng lập. 


Sau đó ít năm, họ có được tên lửa đẩy đầu tiên, là chiếc nguyên mẫu vừa phóng trong video. Suy cho cùng, nó là tên lửa LX đời cũ với 1 số sửa đổi và úp đết. Tên lửa này được đặt tên là Alpha – nghĩa là đời đầu. Theo nhà phát triển, nó mang được lên quĩ đạo LEO vệ tinh nặng 1 tấn và quĩ đạo đồng bộ mặt trời vệ tinh 630 kg với giá thành hứa hẹn khá rẻ, khoảng 15 triệu đô.


Quay lại vụ phóng từ bãi thử tại Căn cứ Không quân Vandenberg bang California. Vụ phóng tỏ ra là khá hoàn hảo trong ~3 phút đầu tiên. Nó đã đi ra ngoài bầu khí quyển. Thế rồi đột nhiên có trục trặc động cơ đẩy, Alpha mất hướng, lộn đầu và phát nổ. 


Vụ nổ không đến nỗi làm cho Firefly Aerospace phải cạy cửa các hãng bảo hiểm đòi tiền đền vệ tinh. Trong chuyến bay đen đủi đầu tiên, công ty khởi nghiệp chỉ mang 92 kg hàng hóa lặt vặt, đại loại những vật lưu niệm của đám học sinh sinh viên và vài cái vệ tinh mô hình kubsats cỡ nhỏ của cùng công ty, có giá trị không đáng kể.


Nguyên mẫu đầu tiên mà Firefly Aerospace hy vọng sau 7 năm tồn tại trong ngắc ngoải tan thành tro bụi. Họ nói đã thu được dữ liệu bay và sẽ tìm ra nguyên nhân. 


Nhưng cái nguyên nhân chính yếu nhất: Nước Mỹ có được sự phát triển vượt bậc, thực ra là nhờ thu gom được một mớ các nhà khoa học châu Âu chạy loạn thời WW-2. Đến nay, thế hệ đó không còn, sức phát triển Mỹ trở về đúng giá trị thực của nó, kể ra cũng ko quá khi nói nước Mỹ lại trở về cái máng xưa cũ quen thuộc: Gây chiếm và cướp đoạt. Nhưng thời nay cũng đã khác, cái cảnh bỏ của chạy lấy người ở Afghan trông quen quen.

Nguồn: Trần Vinh

Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2021

TIÊM VẮC XIN VẪN BỊ LÂY NHƯNG KHÔNG CHẾT?

Các đồ thị và thông tin dưới đây đều là của Mỹ

https://ourworldindata.org/explorers/coronavirus-data-explorer?zoomToSelection=true&time=2020-03-01..latest&facet=none&pickerSort=asc&pickerMetric=location&Metric=Confirmed+cases&Interval=New+per+day&Relative+to+Population=false&Align+outbreaks=false&country=~USA

1- Vắc xin có mục đích là để phòng bệnh. Có rất nhiều trường hợp dùng vx gần như chữa bệnh, ví dụ bị chó dại cắn trước đây, nếu thấy vết cắt ở xa trung ương thần kinh, phát triển chậm, thì tiêm vắc xin sẽ có kháng thể trước. Nhưng bệnh dại này phát bệnh sau 3 tháng đến hàng năm. Các vết cắn gần TW thần kinh thì phải tiêm huyết thanh chứa kháng thể. Còn bệnh Covid-19 sau khi nhiễm thì phát bệnh 3-10 ngày, trước khi có kháng thể, nên không thể dùng vắc xin để chữa bệnh.
1.a-Như vậy, tuyên truyền "vx tuy không ngăn được bệnh nhưng lại làm giảm bệnh nặng và tử vong", coi vx là thuốc chữa, là tầm bậy.
1.b-Tiêm vx vào dịch lớn mà không dùng các biện pháp khám triệu chứng, xét nghiệm gen báo dướng tính, khám kháng thể ..., sẽ chồng triệu chứng chồng bệnh, tăng nặng và chết rất nhiều.

2. Đám media Phương Tây trước đây nói tiêm vx thì ít bị lây - dĩ nhiên thế. Nhưng dịch ở Anh Mỹ lên mạnh hơn trước.

3. Đám media lại nói, tiêm vx thì có bị lây nhưng ít tăng nặng, ít chết. Đây là ảo thuật chế biến số liệu, mình mô tả ngắn thế này.

Đợt dịch lớn nhất là đợt cao trào giữa mùa cúm, đạt đỉnh ngày 08/01/2021, xuống hết dốc ngày 22/02/2021. Ngày 22/2 tốc độ lây chỉ còn 1/4 đỉnh, đến hết tháng 2 còn 1/5 đỉnh, đến tháng 6 còn 1/20 đỉnh. Đến ngày đỉnh 08/01/2021 thì Mỹ mới tiêm 1 mũi chưa đầy 2% dân, ngày 22/02 chưa đầy 13% dân. Nếu tính 2 mũi thì ngày 08/01 hầu như là 0, ngày 22/02 mới có chưa đầy 6% dân số. Như vậy, không thể nói dịch giảm do tiêm, và theo thời sự thì cũng không phải do lockdown, tức là chỉ có thể do lây tự nhiên quá nhiều trong khi không test được.

Như vậy, phần lớn tiêm sau khi dịch giảm mạnh, tỷ số người đã tiêm rồi mà bị nhiễm hay tăng nặng rất ít. Nếu tính trước tháng 7, thì số tiêm rồi nhiễm rất ít, sau đó mới tăng. Đồ thị chết, đi sau đồ thị lây 3 tuần, vì nay sau dịch lớn chưa thiếu máy thở, người ta không nhiễm cái chết ngay mà ốm khoảng 3-4 tuần, nên thống kê số chết của người đã tiêm rồi trước tháng 8/2021 là rất ít. Thêm nữa, sau dịch lớn thừa máy thở, nên sau tháng 2/2021 thì rất nhiều người lay lắt chết dần, đều là số bị lây từ đầu năm trước khi tiêm.

Có thể ước lượng như thế này. Theo đồ thị phân phối vắc xin, thì có thể ước lượng bằng giả thuyết toàn bộ người Mỹ được tiêm trong ngày 20/04/2021 khi đạt tiêm mũi 2 cho 25,63% dân số, hiện nay là gần 52%. Như vậy, họ có kháng thể ngày 01/05/2021, hôm đó tổng tích lũy số nhiễm là 32,40 triệu. Từ ngày đó đến ngày 05/07/2021 tăng tích lũy lên 33,72 triệu . Chỉ có 1,32 triệu người bị lây trong khoảng đó, trong tổng số 33,7 triệu bị lây từ đầu dịch đến 05/07/2021. Nếu coi Mỹ đã tiêm 50% và vắc-xin hoàn toàn không có tác dụng, thì chỉ có 0,66 triệu người đã tiêm bị lây. Với tỷ số chết 1% thì, sau 3 tuần là gần hết tháng 7, chỉ có 6,6 nghìn người đã tiêm bị chết, tính toàn nước Mỹ. Trong khi đó từ tháng 2/2021, có gần 20 vạn người Mỹ chết Covid-19, nên tỷ lệ người chết đã tiêm rất ít, đã tiêm đủ càng ít. Cụ thể,
- Chỉ khoảng 3% số chết trong thời gian đó là tiêm vx đủ .
- Chỉ 6.600/170.000.000 = 0,004% = 0,4 phần vạn người tiêm đủ vx chết, hay 99,996% người tiêm vx không chết .
- Chỉ có 660.000/170.000.000 số người tiêm đủ vx bị lây, tức là 0,4% số người tiêm đủ vx bị lây...

Tuy nhiên, không ai dám công bố con số tính toán này, số chết sau khi tiêm rất đông, lớn hơn con số tính toán. Riêng số chết ngay sau khi tiêm được CDC ghi nhận đã là gần 7.000, nhưng hiện nay CDC từ chối điều tra liên quan. Chỉ riêng con số này đã lớn hơn con số ước tính người bị lây nhiễm bệnh rồi chết, trong giả thiết vắc xin hoàn toàn không có tác dụng.








Nguồn: Phuc Mai

THẾ NÀY RẤT CHỦ QUAN, NẾU TIÊM XONG HAI MŨI

https://www.facebook.com/LUONGTRUONGSON7/posts/3823147311124069

https://www.facebook.com/luongtruongson56789

https://www.facebook.com/LUONGTRUONGSON7

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

KHI PHỤ NỮ LÀ NẠN NHÂN CỦA LÍNH MỸ

“Đàn bà là mọi vàng. Đàn bà là kẻ xấu. Chúng là những sinh vật không khác gì Cộng sản và lũ da vàng” (Tim O'Brien, một cựu sĩ quan huấn luyện, nói về thông điệp được truyền tải đến tân binh Mỹ trước khi được đưa đến Việt Nam) 

Bên cạnh bóc lột tình dục, bạo lực tình dục cũng là chuyện thường ngày trong chiến tranh chống Mỹ. Trong khi người ta thường cho rằng các vụ tấn công tình dục đều diễn ra ở nông thôn, có bằng chứng cho thấy đàn ông đóng quân ở khu vực xa chiến trường cũng có nhiều cơ hội để bóc lột và hãm hiếp phụ nữ. Chẳng hạn, vào ngày 27/12/1969, Refugio Longoria và James Peterson, lính Đại đội Truyền tin 580, và một người lính khác cho một cô hầu gái 19 tuổi người Việt đang đi xe về nhà sau một ngày làm việc tại căn cứ khổng lồ ở Long Bình. Họ chở cô đến một nơi hẻo lánh phía sau trung tâm giải trí và đẩy cô vào phía trong thùng xe tải, đè cô xuống, bịt miệng và bịt mắt cô. Sau đó, chúng hãm hiếp tập thể và để cô nằm vệ đường. Một cuộc kiểm tra y tế ngay sau đó ghi lại rằng “màng trinh của cô bị rách. Có máu tươi trong âm đạo”

Vào ngày 19/3/1970, một lính Mỹ tại căn cứ tại Chu Lai, tỉnh Quảng Tín [một phần Quảng Nam bây giờ], lái một chiếc xe jeep đi lòng vòng trong khi binh nhất Ernest Stepp sờ mó và tát một phụ nữ người Việt đã từ chối những lời tán tỉnh của hắn. Theo các tài liệu của quân đội, với sự giúp đỡ của một người lính khác, Stepp đã xé quần của người phụ nữ và cưỡng hiếp cô. Người lái xe dường như cố ý lái xe chậm để cho những kẻ cưỡng hiếp có nhiều thời gian hơn và khuyên cô gái rằng: “Nếu mày không chống cự quá mạnh thì sẽ không quá tệ đâu”. […] Kích thước to lớn của lính Mỹ - trung bình cao hơn 13 cm và nặng hơn 20 kg so với lính Việt Nam chứ chưa nói đến phụ nữ Việt Nam - đồng nghĩa với việc những cuộc hãm hiếp do lính Mỹ gây ra thường gây thương tích nghiêm trọng.

[…] Hầu hết các vụ hãm hiếp và tội ác khác đối với phụ nữ Việt Nam diễn ra trên trận địa tại các thôn xóm và làng mạc chỉ có phụ nữ và trẻ em khi người Mỹ ập đến. Hiếp dâm là một cách để khẳng định sự quyền lực thống trị, đôi khi là còn là vũ khí chiến tranh, được sử dụng trong các cuộc thẩm vấn tù binh nữ để lấy thông tin về quân địch. Ngay cả khi không phải là tù binh, phụ nữ nông thôn thường được người Mỹ xem là những kẻ phá hoại bí mật hoặc là vợ/ bạn gái của du kích Việt Cộng, và do đó chơi thế nào cũng được.

Các đơn vị đóng quân khắp Nam Việt Nam đều bị tố cáo về tấn công tình. Một cựu chiến binh thuộc Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 198 đã làm chứng rằng ông ta có biết 10 đến 15 trường hợp như vậy diễn ra trong khoảng 6 hoặc 7 tháng, trong đó các binh sĩ từ đơn vị của ông đã hãm hiếp các cô gái trẻ. Một người lính phục vụ trong Sư đoàn Bộ binh 25 thừa nhận rằng, trong đơn vị của ông, hiếp dâm gần như là quy trình hoạt động chuẩn.

Một người lính của Sư đoàn Bộ binh 23 nhớ lại rằng những đồng đội của ông khi đi tuần tra qua một ngôi làng đột nhiên bắt một cô gái để hãm hiếp. Ông nhớ lại: “Cả ba thằng lính nắm lấy con nhỏ mọi vàng và bắt đầu kéo nó vào trong lều. Tôi đã không biết phải làm gì. Chỉ nhờ một trải nghiệm này thôi mà tôi học được cách nhận ra âm thanh của cưỡng hiếp từ một khoảng cách rất xa… Suốt hai tháng sau đó tôi nghe thấy âm thanh này trung bình ba ngày một lần”

Vào tháng 11/1966, những người lính từ Sư đoàn Kỵ binh 1 trơ trẽn bắt cóc một phụ nữ trẻ người Việt tên là Phan Thi Mao để buộc cô làm nô lệ tình dục. Một thành viên trong đơn vị đã làm chứng rằng, trước khi thực hiện nhiệm vụ, trưởng nhóm tuần tra của anh ta đã nói thẳng rằng: “Chúng ta sẽ bắt một con đàn bà để chịch, hoặc quan hệ tình dục, và vào cuối ngày thứ năm chúng ta sẽ giết nó”. Tên trung sĩ đã làm đúng những gì hắn nói. […]

Các vụ hãm hiếp tập thể diễn ra phổ biến một cách đáng sợ. Một báo cáo quân đội tường thuật chi tiết những cáo buộc của một phụ nữ Việt Nam nói rằng cô ấy bị lính Lữ đoàn dù số 173 bắt giữ và sau đó bị 10 tên lính hãm hiếp. Trong một sự việc khác, 11 thành viên của một tiểu đội từ Sư đoàn Bộ binh 23 đã hãm hiếp một cô gái Việt Nam. Khi tin tức lọt ra ngoài, một toán lính khác mò đến tận nơi để nhập cuộc. Trong một sự việc thứ ba, một người lính Sư đoàn Bộ binh 23 nhớ lại rằng đã thấy một người phụ nữ Việt Nam không bước chân nổi sau khi bị mười ba người lính hãm hiếp. Và vào ngày Giáng sinh năm 1969, một cuộc điều tra hình sự của quân đội cho biết, bốn chuẩn úy đang bay bằng trực thăng nhìn thấy một số phụ nữ Việt Nam trong một cánh đồng lúa thì hạ cánh, bắt cóc một trong số họ, và thực hiện “hành vi dâm ô và dâm đãng”.

[…] Một số vụ tấn công tình dục bạo lực và ghê rợn đến mức gây sốc. Một lính thủy đánh bộ nhớ rằng anh tìm thấy một người phụ nữ Việt Nam bị thương do trúng đạn. Cô ta bị thương nặng và hỏi xin nước. Đáp lại lời cầu xin, quần áo của cô bị xé toạc. Cô bị đâm vào cả hai vú, sau đó bị ép nằm ngửa trên mặt đất, tay và chân dang rộng, rồi âm đạo của cô bị đâm bằng một cái xẻng. Những người phụ nữ khác bị làm nhục bằng những đồ vật khác nhau, từ chai soda đến súng trường.

Tại Mỹ Lai, một số binh sĩ đã trở thành “cựu binh hai lần” (double veteran), cách mà lính Mỹ gọi những người hiếp rồi giết phụ nữ. Nhà văn Michael Bilton và Kevin Sim tường thuật: “Nhiều phụ nữ [tại Mỹ Lai] bị làm nhục, hãm hiếp, tùng xẻo, và âm đạo của họ bị xé toạc bằng dao hoặc lưỡi lê. Một người phụ nữ bị giết khi có kẻ chọc nòng súng trường vào âm đạo của cô và bóp còi”. Trong một vụ tấn công tình dục khác, ba tên lính đã đè một cô gái mới lớn xuống đất và làm nhục.  Sau đó, cô gái bị giết bằng cách bắn vào đầu.

Nhưng Mỹ Lai không phải là nơi duy nhất có những tội ác như thế. Một người lính thủy đánh bộ đóng quân ở tỉnh Quảng Tín làm chứng rằng một đơn vị 9 người đi vào một ngôi làng lấy cớ là để bắt giữ một “con điếm Việt Cộng”. Chúng bắt một người phụ nữ, sau đó từng tên một cưỡng hiếp cô. Người cuối cùng bắn vào đầu cô.

Sự tàn bạo của lính Mỹ không có giới hạn, thậm chí là đối với những em gái yếu ớt. Vào tháng 6/1968, một người đàn ông Việt Nam lớn tuổi không có liên hệ rõ ràng nào với cách mạng và hai cô gái nhỏ tuổi được cho là y tá quân địch đã bị lính của Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 198 bắt giữ và đưa đến một căn cứ Mỹ để thẩm vấn. Trong cuộc thẩm vấn, hai cô gái, mới 17 và 14 tuổi, bị xé rách áo. Họ bị đánh đập tàn nhẫn bằng gậy, bị đấm, bị tát, bị bắt quỳ gối và đe dọa rằng sẽ bị giết vào ngày hôm sau. Sau đó, họ được dẫn đến một khu vực quân Mỹ đóng qua đêm, lính Mỹ truyền tai nhau rằng sắp có hãm hiếp. 

Một trung sĩ đã bắt đầu đêm bạo dâm bằng cách cưỡng hiếp cô gái 17 tuổi. Cùng lúc đó, một hạ sĩ hãm hiếp cô bé 14 tuổi. Vài phút sau, cô bé bị kề dao vào cổ và buộc phải quan hệ tình dục bằng miệng với một người lính khác. Sau đó một tên lính khác hãm hiếp cô bé 14 tuổi, bắt cô phải kích dục bằng đường miệng. Một tên lính khác bắt chước và buộc cô bé phải quan hệ tình dục bằng miệng với hắn. Các nhân chứng nói rằng họ thấy cô bị làm nhục bởi ít nhất hai tên lính Mỹ nữa, và kêu khóc suốt đêm.

Trong khi đó, hai tên lính khác có thể đã cưỡng hiếp cô gái người Việt lớn tuổi. Sau đó, tên trung sĩ hãm hiếp cô lần đầu tiên đã làm nhục cô lần thứ hai. Sau đó, cô bị cưỡng hiếp bởi tên hạ sĩ đã làm nhục cô bé 14 tuổi. Vào buổi sáng hôm sau, người ta nhìn thấy cô gái 17 tuổi mình mẩy đầy máu và hoảng loạn cực độ, trong khi cô bé lại bị một hạ sĩ hãm hiếp. Đến lúc này, một nhân chứng cho biết, cô đã “bất tỉnh, đôi chân giơ cao bắt qua vai tên lính”. Người lính đầu tiên hãm hiếp cô nói rằng cô bé “mềm nhũng như một miếng giẻ ướt” còn kẻ đang cưỡng hiếp cô cứ cười rít lên trong khi làm chuyện đồi bại. Hắn nói trước tòa rằng mọi chuyện “giống như tra tấn hơn là tình dục”. Hắn nói thêm rằng cô bé bị làm nhục thêm khoảng mười đến hai mươi lần.

Cuối ngày hôm đó, trong một khu vực đông đúc binh lính, người đàn ông lớn tuổi bị chĩa súng vào đầu, ấn vào tay một khẩu súng trường và ra lệnh phải bắn cô bé. Ông bóp cò nhưng chỉ thổi bay một phần cằm và cổ của cô bé. Sau đó cô bị một lính Mỹ xử tử. Cô gái lớn tuổi hơn vẫn còn sống thoi thóp và sau đó biến mất.

(Nick Turse - Kill anything that moves)


CHÂN DUNG MỘT ĐỒ TỂ

Thằng đó bình thường hiền và tốt tính lắm”: Chân dung một đồ tể

Trung sĩ Roy Bumgarner thuộc Sư đoàn kỵ binh số 1 và sau đó là Lữ đoàn dù số 173 đóng quân tại tỉnh Bình Định. Anh là một người lính có số đếm xác tích lũy cao đáng kinh ngạc: khoảng 1.500 kẻ thù bị giết tại trận. Trong các chuyến lùng sục với tổ sáu người của mình, đôi khi anh còn hạ nhiều kẻ địch hơn so với các thành viên còn lại trong tiểu đoàn 500 người của mình. Vào tháng 3/1968, binh nhì Arthur Williams, một người lính bắn tỉa trong đội trinh sát Bumgarner, trình báo với các quan chức quân đội rằng anh đã chứng kiến ​​Bumgarner giết thường dân Việt Nam không vũ trang ít nhất là 4 lần, những người dân ấy chỉ đang làm ruộng hoặc đi bộ gần làng của họ. Trong một sự việc như vậy, Williams kể rằng tổ của Bumgarner đã bí mật tiếp cận hai người đàn ông làm việc trên một đám ruộng. Trong khi Bumgarner đang nhắm cẩn thận, một trong hai người nông dân phát hiện ra anh ta và giơ tay đầu hàng, nhưng tên trung sĩ vẫn bắn vào vai anh ta. Cả hai người sau đó bắt đầu la hét bằng tiếng Việt mà Williams cho là những lời cầu xin van nài những người lính Mỹ đừng bắn; cả hai người không ai chạy trốn cả. Tuy nhiên, khi người đàn ông thứ hai đến giúp đỡ người bạn bị thương của mình thì Bumgarner tung ra một loạt đạn liên hồi giết chết cả hai.

Trong một sự việc khác, Williams kể rằng Bumgarner đã giết một đứa trẻ con. Và anh cũng đề cập rằng Bumgarner thường xuyên đặt những quả lựu đạn “chicom” (Chinese communist – Trung Cộng) lên các thi thể để khiến họ bị xem là kẻ địch chết trận. “Tôi không hề ghét bỏ Thượng sĩ Baumgardner [Anh này nói sai tên Bumgarner] ngoại trừ điều này: hắn muốn giết người đến điên cuồng”, Williams cho biết.

Nỗ lực tố giác của William đều vô ích. Bumgarner là một người lính nổi tiếng và rất được những người lính Mỹ xung quanh yêu mến, được cho biệt danh là “Đồ lười” (the Bummer); chính Williams cũng gọi anh ta là một người “tốt tính”. Bumgarner có sự ủng hộ của đồng đội và đặc biệt là của cấp trên. Williams bị tô vẽ là một người ghen ăn tức ở, và những cáo buộc của anh bị bỏ ngoài tai. Bumgarner tiếp tục dẫn dắt các cuộc lùng sục ở nông thôn và lời tiên đoán của William sớm trở thành sự thật.

Sáng ngày 25/2/1969, Nguyen Dinh, 40 tuổi, đi lấy nước lên ruộng cho làng. Vợ ông, Phan Thi Dan, trao anh chiếc nhẫn cưới để cất giữ. Hai vợ chồng đã bán một con heo để trả tiền cho chiếc nhẫn, và bài Đan không muốn nó rơi mất trong cái hào mà bà sẽ bắt tôm cho vịt ăn Sau buổi sáng hôm đó, Dan nghe thấy “tiếng đạn chát chúa, sau đó là một vụ nổ lớn”. Không lâu sau, một người bạn chạy tới bên Dan, hét lên rằng người Mỹ đã bắn chồng bà. Choáng váng, Dan đứng dậy, không bước chân nổi một hồi, rồi bà thả lưới xuống và bắt đầu chạy về phía tiếng súng.

Cùng lúc đó, Huynh Thi Nay cũng đang chạy về phía cánh đồng. Cô vừa đi chợ về thì một người hàng xóm bảo cô ấy rằng lính Mỹ đã bắt giữ hai người chăn vịt và một người bơm nước cho ruộng. Nay chạy đến nơi mà cô biết con trai nhỏ tuổi của mình, Phạm Tho, đang chăn vịt. Cô nhớ lại rằng: “Khi tới đó thì  tôi tìm thấy một cặp lồng tre… và một đàn vịt con ở kế bên. Tôi gọi ra ‘Tho, Tho’ khoảng ba lần, nhưng không có tiếng trả lời”. Cô tức tốc chạy đến một cây mít, nơi cô phát hiện cái cây chăn vịt của con trai của mình nằm trên mặt đất và chiếc nón lá của nó treo trên cành cây. Sau đó, cô nhìn thấy các xác chết: con trai của cô và hai người khác, đầy vết đạn, nằm lăn ra hướng bàn chân ra ngoài như nan hoa của một bánh xe. “Mọi thứ trở nên tối như đêm. Tôi không thể ngừng khóc. Tôi đang chạy về ấp, khóc miết. Mắt tôi rưng rưng nước mắt, tôi không thể nhìn thấy rõ đường đi”, cô nhớ lại. Cả ba nạn nhân đều “thân xác không còn lành lặn”, cô nói. Các thi thể “không còn đầu… óc văng tung tóe”. Nỗi đau và sự phẫn nộ từ cảnh tượng ấy cứ đeo bám cô suốt cuộc đời. “Mỗi khi nhớ lại, tôi luôn giận đến điếng người, như ngày hôm ấy”.

Chính Roy Bumgarner đã dẫn Nguyen Dinh, Pham Tho và cả cậu bé tên Nguyen Kich đến nơi hẻo lánh bên cạnh cây mít ấy. Khi được hỏi sau đó, Bumgarner đã kể một câu chuyện giao chiến điển hình: tổ sáu người của anh ta đã phát hiện ra ba người đàn ông Việt Nam và giết họ khi họ bỏ chạy. Khi kiểm tra, ông nói, tổ lính Mỹ tìm thấy một số vũ khí gần đó. Ba người Việt sau đó được thêm vào số đếm xác. Nhưng chuyện thực sự đã xảy ra, các thành viên khác trong đơn vị sau đó cho biết, thực sự là một vụ giết người máu lạnh: những người dân thường không vũ trang, vô hại bị bắn, đầu của họ bị lựu đạn nổ cho tan xác sau đó vũ khí được đặt kế bên để làm cho họ giống như quân địch. Một người cho biết rằng khẩu M-16 của Bumgarner đã làm các nạn nhân tan xác, họ đã chết nhưng Bumgarner vẫn ra lệnh cho nổ lựu đạn kế bên đầu họ.

Charles Boss, một thành viên khác trong đội lùng sục, có lần kể với điều tra viên quân đội: “Tôi nghe nói Bumgarner đã làm chuyện này nhiều lần rồi: đặt vũ khí lên xác chết khi không rõ họ có phải quân địch hay không. Vài tuần trước, tôi nghe nói rằng Bumgarner đã giết một cô gái người Việt và hai đứa con nhỏ (trai), tất cả đều không có vũ khí”. Trước đó, Bumgarner đã bị điều tra về các tội tương tự đến ba lần, trong đó có một lần vì giết trẻ em.

Cuối cùng, Bumgarner bị kết án, nhưng chỉ tội vô ý giết người. Hắn không bao giờ ở tù một ngày vì tội ác của mình. Thay vào đó, để trả giá cho cái chết của ba thường dân Việt Nam vô tội, hắn chỉ bị giáng cấp và và bị phạt 97 dollar/ tháng trong 24 tháng. Sau khi kháng cáo, hình phạt ấy lại giảm xuống tiếp còn sáu tháng.

Berenbak là người đã quan sát phiên tòa và kinh tởm trước bản án. Vào ngày 31/3/1972, lúc này trở về Mỹ an toàn, ông mở tờ báo New York Times hôm ấy ra và thấy Roy Bumgarner mỉm cười trên trang báo. Tấm hình của hắn là minh họa một bài viết về những người Mỹ mà Việt Nam đã trở thành ngôi nhà thứ hai. Berenbak đặc biệt tức giận vì trong bức ảnh, Bumgarner đang choàng tay lên một cậu bé Việt Nam giống như một trong những đứa trẻ mà hắn bị kết án đã giết hại. “Tôi ở lại vì tôi thích công việc của mình”, Bumgarner nói trong bài báo, giải thích rằng anh ta đã làm mọi thứ có thể nhằm  ở lại Việt Nam.

Sau phiên tòa năm 1969, Bumgarner tiếp tục ở lại chiến đấu tại Việt Nam. Khi hết hạn, hắn lại xin tái ngũ và được quân đội chấp nhận, hết lần này đến lần khác. Đến khi mặt hắn xuất hiện trên tờ New York Times, hắn là một trong số 5.000 lính Mỹ còn ở lại Việt Nam.

(Lược trích từ cuốn sách “Kill anything that moves: The real American War in Vietnam” của Nick Turse)

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.


HUẤN LUYỆN TÂN BINH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM: CÁCH ĐÀO TẠO ĐỒ TỂ (PHẦN 1)

Huấn luyện tân binh trong Chiến tranh Việt Nam: Cách đào tạo đồ tể (Phần 1)

Phần lớn lính Mỹ tòng quân tại Việt Nam đều là thiếu niên hoặc chỉ vừa qua độ tuổi đó. Dù họ đi theo dạng quân dịch hoặc tình nguyện (thường để tránh sự bất ổn của chế độ quân dịch), khi bắt đầu huấn luyện họ đều là những chàng trai mới lớn.

Trải nghiệm huấn luyện tân binh được thiết kế nhằm mục đích đưa tâm lý của các tân binh về trạng thái giống như thời thơ ấu. Mười tám năm học hỏi trước đó hoặc lâu hơn của họ phải bị tước bỏ đi thông qua sốc, sự tách biệt với người khác, căng thẳng về thể chất và tâm lý; thông qua đó đầu óc của các tân binh sẽ trở thành một trang giấy trắng để bắt đầu nhồi nhét tư tưởng nhà binh. Trong suốt tám tuần, mười bảy giờ một ngày, các tân binh trải qua một cuộc sống được quy định đến mọi chi tiết, họ phải học lại cách cư xử cho đúng kiểu quân đội, tất cả đều bị giám sát nghiêm ngặt bởi quyền lực tối cao của sĩ quan huấn luyện. Nhà sử học Joanna Bourke có nói, sự kết hợp khéo léo của “sự diệt trừ tính cá nhân, đồng phục, thiếu riêng tư, các mối quan hệ xã hội bắt buộc, lịch sinh hoạt dày đặc, thiếu ngủ, sự mất phương hướng khi phải sống cuộc đời mới theo những quy tắc quân sự, những quy định độc đoán và sự trừng phạt nghiêm khắc” được áp dụng để thực hiện hành công nhiệm vụ này.

Phạt lính thường xuyên rất quan trọng đối với quá trình này, dù là hình phạt cho những vi phạm đơn giản như không xưng hô đúng cách với thượng cấp. Sự trừng phạt bao gồm nhục mạ nhân phẩm và hành hạ thể xác, từ việc bị ép ăn rác đến tập luyện đến mức ngất xỉu. Đồng thời, chỉ riêng việc huấn luyện mỗi ngày thổi là đã đủ để coi là một trải nghiệm đau đớn. Ngay cả những vận động viên xuất sắc nhất cũng thường kiệt sức trước các bài tập luyện nặng nhọc. “Hoàn toàn kiệt sức”, nhà sử học Christian Appy chỉ ra rằng, “là một nhân tố quan trọng giải thích vì sao các tân binh sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh” vì họ sớm “học được rằng rằng bất tuân lệnh dưới bất kỳ hình thức nào chỉ mang lại nhiều đau đớn hơn”.

Các tân binh cũng được nhồi sọ một nền văn hóa chứa đầy bạo lực và sự tàn nhẫn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự sẵn sàng chém giết không thương tiếc. Như nhiều người lính khác, người lính quân dịch thời kỳ Chiến tranh Việt Nam Peter Milord cho Appy rằng lúc đầu, ông chỉ hô vang những lời ca bạo lực trong lúc huấn luyện sự. “Giết! Giết!Giết! Giết không thương tiếc là tinh thần lưỡi lê!” Nhưng càng về sau ông càng thấy mình bị nhiễm những tư tưởng tàn bạo này. “Tôi không trở thành một con người máy”, Mil Milord nói, “nhưng có lúc tôi gần giống như vậy, kinh hoàng lắm”.  Một cựu chiến binh khác nói thế này: “Suốt mười một tháng, tôi được huấn luyện cách giết chóc. Suốt tám tuần, trong các bài huấn luyện cơ bản, tôi hét lên ‘giết, giết’. Vậy là khi đến Việt Nam, tôi đã sẵn sàng để giết”. Một cựu chiến binh khác nói với tôi rằng sau khi hô vang “giết, giết, giết” trong các bài huấn luyện cơ bản, huấn luyện chiến đấu bộ binh nâng cao và tuần tra trinh sát tầm xa, ông cảm thấy hoàn toàn bị “tẩy não”.

Sự giết chóc không thương xót càng được củng cố thêm bởi sự phân biệt chủng tộc trắng trợn tràn lan trong quá trình huấn luyện. Cựu chiến binh Wayne Smith nhớ lại, “Sĩ quan huấn luyện không bao giờ gọi người Việt Nam là ‘người Việt’. Thay vào đó, họ gọi là lũ ngu si, mọi vàng, bọn gù, mắt xếch, thú ăn gạo, tất cả những tên gọi gạt bỏ đi tính con người… Bọn họ không phải là con người, đó rõ ràng là thông điệp”. Tương tự, cựu chiến binh Haywood Kirkland đã mô tả trải nghiệm của ông như thế này.

Ngay khi [anh] bước chân vào trại huấn luyện, họ cố gắng thay đổi toàn bộ tính cách của anh. Họ bảo chúng tôi ngay lập tức là đừng gọi họ là người Việt. Gọi họ là mọi vàng, lũ ngu si. Họ nói với chúng tôi là khi Việt Nam thì sẽ đối mặt với Charlie, Việt Cộng. Chúng giống như súc vật hoặc một thứ gì đó không phải là con người. Không ai cho phép bạn được nói về chúng như thể chúng là người. Không được thương xót chúng. Họ nói với chúng tôi rằng họ không được đối xử với bất kỳ loại lòng thương xót nào. Đó là những gì được khắc sâu vào trong anh. Bản năng giết chóc.

Thái độ này được củng cố một khi những người lính đến Việt nam. Nhiều người nhớ lại họ ngay lập tức được chỉ thị rằng dù cho chính sách trên giấy tờ có nói gì thì cũng không được tin người Việt Nam, rằng ngay cả phụ nữ và trẻ nhỏ cũng có thể là kẻ thù - một thái độ không lành trong một cuộc chiến được rêu rao là nhằm bảo vệ dân thường Việt Nam khỏi sự xâm lược của cộng sản. Lính Mỹ tin rằng một đứa trẻ cũng có thể ném lựu đạn hoặc buộc chất nổ quanh mình. Một người phụ nữ lớn tuổi có thể làm bẫy tự chế. Mặc dù sách báo của quân đội Mỹ dành vào những người lính sắp đến Việt Nam nhấn mạnh rằng cần phân biệt giữa thường dân và du kích, một số ấn phẩm lại gợi ý rằng bất cứ ai đội nón lá hoặc mặc áo bà ba đen đều có thể là quân địch.

Một cựu binh nói với tôi rằng khóa huấn luyện của anh ấy đã nói rõ rằng “kẻ địch là bất cứ ai có mắt xếch sống trong làng. Dù là phụ nữ hay trẻ em cũng vậy”. Một sĩ quan đã tóm tắt quan điểm phổ biến lúc ấy như sau: “Ừ thì có vài phụ nữ và trẻ em bị giết… Dạy cho chúng một bài học nhớ đời. Chúng đều là VC hoặc ít nhất cũng là có giúp đỡ… Anh không thể cảm hóa chúng đâu, chỉ giết chúng thôi”.

Việc ra lệnh giết dân thường không vũ trang là bất hợp pháp, dù họ ủng hộ ai trong cuộc chiến. Nhưng các mệnh lệnh trái luật không phải là hiếm, và binh lính nên phản ứng thế nào với chúng thường không rõ ràng. Trong trại huấn luyện hoặc khi hướng dẫn  thực chiến, nhiều người lính thường được dạy một bài học ngắn, khoảng một giờ, về luật chiến tranh, nhưng kiến thức này lại rất ít so với hàng tuần rèn luyện chém giết.

Hơn nữa, khóa huấn luyện căn bản nhấn mạnh rằng sự vâng lời các chỉ huy có tầm quan trọng bậc nhất. Một cha tuyên úy sẽ thường nói như sau: “Người lính tự do nhất là người lính sẵn sàng phục tùng chính quyền. Dựa vào khái niệm danh dự và lợi ích cá nhân, cha tuyên úy sẽ nói với các tân binh rằng: “Khi con tuân thủ một mệnh lệnh hợp pháp, con không cần phải sợ hãi, cũng không phải lo lắng”. Tuy nhiên, định nghĩa thế nào là một mệnh lệnh “không hợp pháp” thì không ai cho biết, và các tân binh bị buộc phải tuân lệnh mù quáng. Họ cũng không được đào tạo chuyên sâu về trách nhiệm và các khía cạnh đạo đức trong một cuộc chiến tranh du kích ở những ngôi làng đầy dân thường.

(Lược trích từ cuốn sách "Kill anything that moves: The real American War in Vietnam" của Nick Turse)




Ảnh: Đội trưởng Mỹ cứu dân thường Việt Nam khỏi lính Mỹ


JOHN MCCAIN LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO

Theo các nhà báo phương tây có mặt tại Hà Nội vào thời điểm John McCain bị bắt (26/10/1967) thì y gãy (hở) xương 2 cánh tay & 1 chân khi bấm ghế phóng nhảy dù.

John McCain trả lời báo chí Anh, Pháp, Mỹ vào dịp lễ Giáng Sinh 1967: "Tôi được đối xử tử tế, chữa lành các vết thương & phục hồi sức khỏe tốt". 

Nhưng cũng là John McCain, ngày 25/04/1973 - khi đã được trao trả: "Cộng sản Bắc Việt từ chối chữa trị các vết thương của tôi. Thậm chí, họ còn đánh vào những nơi bị gãy xương để buộc tôi cung khai". "Dưới sức ép của thế giới văn minh, cộng sản Bắc Việt buộc phải đưa tôi vào bệnh viện nhưng không hề chữa trị, không cung cấp thuốc men.. Các vết thương của tôi đều.. tự lành! "Để gây áp lực với Bố tôi (tư lệnh quân Mỹ tại Nam VN), cộng sản Bắc Việt trói ngược 2 tay tôi về phía sau rồi treo lên bằng dây thừng. Mỗi lần treo 120 phút, 6 lần mỗi ngày suốt 6 tháng. Tôi vẫn kiên cường, không phản bội nước Mỹ - vậy là họ biệt giam tôi vào ngục tối cùng với rắn rết trong 2 năm"

John McCain quả là siêu nhân Mỹ! Và y đã được tặng 3 huy chương cao quý về lòng dũng cảm kiểu siêu nhân. Có điều, từ 1974, siêu nhân John McCain không dám tham dự các cuộc họp mặt, chiêu đãi dành cho các tù binh chiến tranh VN bởi ở đó có hàng trăm bạn tù đủ can đảm chỉ tay vào mặt người hùng: "Mày là thằng bốc phét, xạo lồn & bố láo!"

Ở Mỹ, hễ có 1 chút đàng hoàng thì chả ai làm chính trị. Nếu làm, cũng bị bùm nát gáo như John F. Kennedy. Bởi thế, chính trường Mỹ là nơi thích hợp cho những kẻ như John McCain.

Y trục lợi chính trị bằng cách triệt để khai thác vết thương của nước Mỹ: HỘI CHỨNG VIỆT NAM! POW-MIA là sản phẩm của John McCain. Y nổ như Lê Mã Lương: "Chính mắt tôi nhìn thấy các tù binh sỹ quan Mỹ bị giam giữ trong hệ thống đường hầm dưới lăng mộ của Hồ Chí Minh!"

Đcmn, bị treo lơ lửng rồi bị biệt giam trong phòng tối mà chuyện gì cũng biết thì bó chym Ngọc Trinh rồi. Vậy mà lưỡng viện quốc hội Hoa Kỳ tin sái cổ. Và Hà Nội đã chứng minh: Những đứa ngu thường tin lời thằng ngáo!

Những thằng ngáo thường rất to mồm. Thay vì tụng niệm thánh kinh diễn biến hòa bình, John McCain hô hào: "VN là người bạn của nước Mỹ trên trận tuyến chống Trung cộng!", hoặc: "Chính phủ & nhân dân Mỹ luôn bên cạnh VN trong cuộc chiến chủ quyền trên Biển Đông".

Vâng, Biển Đông - nơi bố của hắn đã trực tiếp ra lệnh cho hạm đội 7 không được can thiệp (19/01/1974) & chính quyền SG "không được làm phức tạp hóa vấn đề Hoàng Sa"

Từ 2002 đến 2017, John McCain tiếp đón, chiêu đãi hơn 40 đoàn dâm chủ Việt qua Mỹ tập huấn về kỹ năng tranh đấu dưới các vỏ bọc nhà báo, luật sư, du học tự túc.. John McCain cũng là kẻ hung hăng & to mồm nhất trong các chiến dịch đòi tăng cường cấm vận Cuba, Triều Tiên, Nga.., các ân nhân của Việt Nam.

Hôm nay, thằng chó đẻ đó chết già. Lẽ ra, tôi không viết những dòng này nhưng chiều nay lướt báo liếc tivi thì hỡi ôi, người ta khóc than đau khổ đến độ đề nghị treo cờ rũ để thể hiện lòng kính trọng dành cho người bạn lớn của VN!

Nguồn: FB Lê Văn Lực

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

VỤ BKAV BỊ HACK

Các bạn còn nhớ "WannaCry ransomware attack" năm 2017, hàng chục vạn máy tính trên 150 nước dính họa. Dữ liệu trong ổ cứng bị mã hoá, các nạn nhân được chào hàng món tiền chuộc thành toán qua bitcoin... Trong số các nạn nhân đó, thì chỉ một số rất ít chấp nhận, bí mật, còn lại thì ... format đĩa.

Nhưng điều đáng nhớ là, WannaCry là loại virus (hay "Ransomware is a type of malware from cryptovirology"), chui vào máy tính qua một lỗ hổng mà Microsoft Windows thực hiện theo National Security Agency NSA =Cơ quan An Ninh Quốc Gia Mỹ. Microsoft sử dụng phần do NSA phát triển, tạo ra một đường hầm tấn công có tên EternalBlue (EternalBlue cyberattack exploit, ngoài ra còn có các tên khác). Đường hầm này cho phép thực hiện mọi điều khiển máy tính chạy Windows OS thông qua mạng. NSA cũng có bộ công cụ "DoublePulsar is a backdoor implant tool", để con người và các phần mềm sử dụng EternalBlue .

Vụ này cho thấy rất rõ ràng, an ninh Mỹ dễ dàng theo dõi chặt chẽ từng cái PC, nếu nó chạy hệ điều hành Microssoft Windows. Chiến lược đánh cắp này đã được các nước lớn châu ÂU nói đến từ lâu. Nga có hai mặt, một mặt nhà nước vẫn dùng MS Win Offline, nhưng đó là bản họ mua, yêu cầu MS cung cấp mã. Một mặt, các máy lớn đều dùng OS riêng. Các OS đều được định dạng chung như Linux hay Unix, cũng như Android trên điện thoại, cũng như bộ lệnh X86 hay ARM, chúng là những tiêu chuẩn chứ không phải là sản phẩm cụ thể, nên ai có khả năng thì tự viết lại của riêng từng modul. Trung Quốc cũng sử dụng Linux vào mục đích tương tự. Người dùng cá nhân thì động đến tiền nong đều dùng Linux, chỉ trừ đàn gà NYSE nuôi để lấy thịt hay trứng.

WannaCry đi qua, nhưng NSA, mọi người thường gọi là ass door, mất cái ass này thì nó chế cái ass khác. Ảnh hưởng lớn của sự kiện là chia đôi đường các nhà nước, vạch rõ khối tay sai trung thành của đế quốc, trong đó có Việt Nam ta, và chịu trách nhiệm mặt IT là anh Quảng Nổ. Mọi người cứ thắc mắc sao nó ngu như thế, thì mình nói, 20 năm trước nó đã là chó của CIA rồi.

Năm 2021 lại có vụ chunxong.. https://raidforums.com/Thread-SELLING-Vietnamese-cybersec-firm-BKAV-s-products-source-code-for-sale

Vụ vệc ngắn gọn.
1- Trên diễn đàn quốc tế trên, có acc là chunxong chào bán, và khoe không bán, dữ liệu hack từ máy chủ Bkav, trong đó có nhiều thứ như email của quốc hội - tất nhiên là Quốc hội Việt Nam, và mã lệnh của các loại sản phẩm soft.
2- Quảng TNT tuyên bố, đõ là dữ liệu cũ do nhân viên đã nghỉ việc 1 năm cũ, không ảnh hưởng đến nay, (nhân viên ở đây mà nghỉ thì hãng code lại sản phẩm).
3- Chunxong post dữ liệu mới, kể cả chat chít họp bàn về phương án đối phó với chunxong, để thấy không phải là cũ.
4- Chunxong post video bạn ấy vào máy chủ Bkav. Cả mạng xã hội ồ lên, là SQL injection. Đó là phương pháp cổ lỗ chỉ chạy trên những phiên bản nền tảng cổ lỗ, ai cũng tưởng tuyệt chủng hết rồi. Đến mức mình nghĩ đó là chunxong diễn.

Vậy thôi, đến đây chẳng cần theo dõi nữa. Trong dữ liệu thò ra có cả "chuẩn bị đón thủ tướng". Tính chất sự việc cũng phần nào giống như vụ 2017 nói trên. Về mặt báo chí, thì đương nhiên vụ việc được nhấn chìm nhanh chóng, hoàn toàn bị quên như WannaCry.

I've several Bkav Pro bugs, one of them allows taking control of computers, which have Bkav Pro installed. I don't know what should I call this bug, backdoor-ed product or a bug ? I will publish this bug sooner or later.
=========
Hi there,

I'm still here for selling.

$20k for BKAV Pro source + $30k for server side code

$10k for BKAV Mobile AV source + $10k for server side code.

$20 for BKAV Endpoint Security. + $10k for server side code

$50k for GD5 source code.

$100k for AI source code.

So far, 3 copies of Bkav Pro source code has been sold. So, no one could buy this product exclusively anymore.

If you want to buy anything above, please, send the number of XMR appropriate to their price to the address:

47SonhEFSikNjwcmGAnKG6frXzkCkA2aZ7yBe8ourjnnNPDgQnjhwCa89NUyew62AxP7b8Uqqmh8dS2RCzg2BxcLTfy7qGG

Then, I will send the source code for the sender.

Because too much of people just ask the price for their curiousness, I will not make a trade for anyone if there's no XMR first.

Note: if u want to buy anything exclusively, the price will be double

Important:

If you have a facebook account, please report this facebook account (belongs to Nguyen Tu Quang) as he continue spreading fake news, talking bullshit, (but blocking/deleting comments).

Nguồn: Phuc Mai

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

TÔI ĐÃ LẾT QUA CƠN COVID NHƯ THẾ NÀO

TÔI ĐÃ LẾT QUA CƠN COVID NHƯ THẾ NÀO

Đầu tiên, phải khẳng định mình đã cực kì may mắn khi sống trong tổ dân phố cực kì, cực kì, cực kì nhiệt tình. Nếu k có các cô chú anh chị hàng xóm đó, thật sự mình k biết bây giờ mình thế nào.

Điều may mắn thứ 2 là mình dính covid theo đường hầu họng. Sau đó nó phát triển theo đường tiêu hoá rồi mới trở ngược lên phổi. Lúc này, cơ thể cũng sinh đủ lượng kháng thể để đấm nhau với bọn vrs.

Thứ 3 là ku con mình chỉ sốt 2 ngày sau đó hoàn toàn k bị gì cả. Không hiểu sao luôn!

Quay về vấn đề chính, ngày 23/7, ba vào bv175 để lọc thận định kì và phát hiện (+). Mẹ đi cùng cũng test ra (+). Sau khi chạy RT-PCR, mẹ báo tình hình về. Ngay lập tức, mình xác định cũng sẽ + và bắt đầu chuẩn bị các loại thuốc và thực phẩm cần thiết, bao gồm cặp nhiệt độ, huyết áp kế, hạ sốt, vitamin C, kẽm, multi vitamin, nước muối, Oresol, Kovir, Xuyên tâm liên, chanh, mật ong, bánh mì khô, mì tôm. Tất cả được dọn sẵn trên bàn để sẵn sàng đón "bão". Bắt đầu tìm phác đồ điều trị F0 nhẹ, xem các clip hướng dẫn của bs Trương Hữu Khanh v/v tự điều trị covid.

Ngày thứ 1 và thứ 2 trôi qua bình yên, không hề có biểu hiện bất thường và mình hi vọng k dính +

Tối ngày thứ 3 xuất hiện sự mỏi và đau cơ nhưng mọi việc khá yên bình đến sáng ngày thứ 4. Bà má Việt Nam anh hùng! Cơn sốt nhẹ đầu tiên xuất hiện với nhiệt khởi động 38,5. Gọi y tế xuống test, "2 vạch anh ơi! Nhưng vạch báo lượng covid mờ, không nặng. Giờ anh muốn vô viện hay tự điều trị ở nhà?" Rất nhanh: "Ở nhà!" Các bạn chú ý là mình ở thể F0 nhẹ nhé. Lượng vrs nhiều hơn thì k biết thế nào!!!

Suốt ngày thứ 4, cơn sốt "nhẹ" vẫn tiếp tục. Mình liên tục súc miệng, xông mũi, uống chanh mật ong nóng và uống hạ sốt theo chu kì 5h/lần. Thỉnh thoảng, nhiệt có xuống 37,5 nhưng chủ yếu duy trì trên 38o và kéo dài suốt ngày thứ 5. Lúc này, hàng xóm đã biết tin và họ bắt đầu nấu ăn để tiếp tế cho mình.

5h chiều ngày thứ 5, cơn "bão" sốt đầu tiên bắt đầu: 39o. Sau khi chan canh, nước nóng chung vô tô cơm để lùa xuống bụng và uống hạ sốt, mình lại lên cơn sốt 39,9. Gọi điện qua hàng xóm: "Anh ơi, em sốt gần 40o rồi". Ngay lập tức, 1 chai chanh nóng, trái cây, những miếng chanh mỏng để hạ sốt được hàng xóm tiếp tế.

Bắt đầu từ lúc này, mình sốt 39o, 40o triền miên. Mọi hành động đều là dùng ý chí để làm. Nhiều lúc, đúng nghĩa là bò đi trong nhà. Thuốc hạ sốt cứ 4h/lần nhưng cũng chỉ giảm được xuống 38o trong 2 tiếng đầu, sau đó lại sốt lên 39o, 40o tiếp. Được cái là chỉ sốt, không ho, không khó thở, các đầu ngón tay vẫn bình thường, cơ mà tiêu chảy như bị vỡ ống nước Sông Đà! Lúc này là lúc con biến chủng Delta bắt đầu đánh vào hệ tiêu hoá. Nếu không bổ sung điện giải kịp, cơ thể sẽ mất nước trầm trọng dẫn tới kiệt sức, k đủ lực để chịu tiếp đòn tấn công vào phổi. Lúc này mình uống Oresol không biết bao nhiêu mà tính. Cứ pha sẵn 2lít rồi uống thay nước. Nước chanh mật ong cũng được nhồi liên tục.

Qua ngày thứ 6, anh hàng xóm liên hệ bs quân y kê cho mình 1 đơn thuốc đông tây y kết hợp và yêu cầu uống đúng đủ theo toa đã kê. Lúc này, mình vẫn lạc quan ở điểm không ho, không khó thở và lượng oxi máu theo quan sát là vẫn ổn. Thuốc hạ sốt, vitamin C, kẽm, kovir, xuyên tâm liên vẫn được uống kèm với toa thuốc của bs. Nước ấm cứ 30p làm 1 ngụm, 60p lại súc miệng nước muối. Sáng chiều 2 cữ nấu nước xông gồm 4 viên xông, 1 nhánh gừng, 3 nhánh sả. Vẫn bò lết vì sốt cao liên tục nhưng được cái vẫn có nhận thức chứ k bị mê sảng. Bị mất vị giác, ăn k biết mùi vị thế nào nữa, toàn đổ nước ấm, quậy lên xong đổ vô họng nuốt. Trưa ngày thứ 6 thì gọi cho cô hàng xóm bảo cô nấu cháo giúp con chứ giờ con nuốt cơm k nổi nữa rồi! Ok, chiều đó bắt đầu được ăn cháo, mà rồi cũng phải đổ thêm nước vô húp chứ nhai k nổi.

Vẫn sốt, vẫn tiêu chảy, vẫn nhồi thuốc định kì liên tục. Anh hàng xóm bảo bs nói phải hết ngày thứ 9 mới bắt đầu hết sốt. Vâng, em vẫn trụ được anh ơi! Sáng ngày thứ 10, tự nhiên lạnh người! Như kiểu mấy ngày 40o riết cái giờ tụt xuống 38o nên cảm thấy lạnh. Bò ra ban công ngồi sưởi nắng 1 lúc thì thấy có vẻ khoẻ lại, k thấy lên cơn sốt như mọi khi nhưng lại tức ngực. Có lẽ con covid bắt đầu đánh ngược lên phổi. Lúc này làm gì 1 chút cũng hả họng thở như chó. Đi từ toalet vô phòng, có khoảng 6m thôi mà nằm thở dốc gần 5p.

Từ ngày thứ 11 mình k sốt cao nhưng tới vấn nạn khó thở. Bao nhiêu kiến thức về khí công, yoga, workout gym gủng các kiểu đều lôi ra chỉ để tập thở. Cả ngày, trừ lúc ăn, uống thuốc, vệ sinh, đều dành hết cho việc tập thở. Hít vào thở ra tưởng chừng đơn giản mà lúc này đau vãi chưởng. Hít vô 2-3s là tức ngực, phải thở hắt ra. Hơi thở nặng, ngắn, đứt quãng, nhịp tim có lúc lên tới 100-110, kinh vãi nồi!

Tới ngày 13 thì mình hoàn toàn dứt sốt, nhưng vẫn phải tập thở. Hơi thở ổn định hơn nhưng vẫn chưa về lại bình thường. Cơ thể đau nhức rã rời sau 1 tuần sốt cao. Bữa leo lên cân, mất toi gần 8kg luôn, kinh khủng! Cơ bắp bèo nhèo, teo nhão hết trơn. Mà thôi kệ, hết sốt, thở đều, ăn cảm thấy có vị là ngon rồi!

Đến ngày thứ 20, tức là hôm qua, 12/8, cảm nhận chủ quan là sức khoẻ đã phục hồi được 95%. Bạch cầu, đỡ tao dậy, tao đấm được con covid này rồi!

Giờ mà có quán nào bán phở hay bún bò nhỉ, chắc mình cạp hết quán luôn quá!

Nguồn: