Bài trước
https://www.facebook.com/story.php?story_fbid=1647026582151102&id=167795750074200 trang có nói về việc 60 năm trước trong điều kiện đất nước đang còn chiến tranh và rất khó khăn, các nhà khoa học non trẻ của ngành y học Việt Nam, đứng đầu là bác sỹ Hoàng Thủy Nguyên dưới sự chỉ đạo của bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế, đã nghiên cứu sản xuất thành công hai loại vaccine quan trọng: phòng bệnh đậu mùa (do chủng virus Variola gây ra) và phòng bệnh bại liệt (tiếng La-tinh: Poliomyelitis, do siêu vi trùng Poliovirus - PV, trong chi Enterovirus gây ra) còn gọi là bệnh viêm tủy xám).
Nhưng để các nhà khoa học non trẻ của ngành y học Việt Nam có cơ sở để chế tạo vaccine phòng bệnh bại liệt lại là một câu chuyện khác, cũng như công cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh này trên thế giới và hậu quả của chính sách "ngoại giao vaccine".
Trước thời điểm Việt Nam sản xuất thành công vaccine là giai đoạn đầy thử thách không chỉ cho Việt Nam mà cả thế giới đều khốn đốn trước sự hoành hành của căn bệnh bại liệt. Cũng như đậu mùa, bại liệt xuất hiện từ rất lâu, hàng nhiều ngìn năm trước đã hoành hành các cộng đồng loài người thời thượng cổ, được minh họa trong những bức tranh cổ đại. Bại liệt lần đầu được công nhận là một bệnh riêng biệt bởi bác sỹ người Anh Michael Underwood năm 1789.
Có thể nói việc nhà khoa học Anh Jenner phát minh ra vaccine năm 1796 là một thành tựu y học vĩ đại của nhân loại. Kể từ khi vaccine ra đời, loài người đã có được một loại vũ khí sắc bén, hữu hiệu để chủ động phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Nhưng với bại liệt không đơn giản như thế, tới năm 1840 nó mới được Jakob Heine nghiên cứu ra căn nguyên, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu vaccine.
Các đợt bùng phát bệnh bại liệt lớn bắt đầu xuất hiện cuối thế kỷ XIX tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Đến thế kỷ XX bại liệt đã trở thành một trong những bệnh ở trẻ em đáng lo ngại nhất tại những khu vực này, thỉnh thoảng lại bùng lên thành các đợt dịch lớn và thảm thương thay, đa phần nạn nhân tử vong lại là trẻ em hoặc vị thành niên.
Năm 1909, lần đầu tiên nhà miễn dịch học người Áo Karl Landsteiner phân lập được chủng Poliovirus gây bệnh và sau đó bác sỹ người Áo Erwin Popper phát hiện ra đặc tính truyền nhiễm của bệnh bại liệt. Poliovirus gây ra tình trạng yếu cơ, chủ yếu ở chân, đôi khi xuất hiện ở đầu, cổ và cơ hoành, nhưng có thể phá hủy tủy sống, để lại di chứng tàn phế quái ác: liệt tứ chi, thậm chí là tử vong.
Mặc dù khi nhân loại biết dùng kháng sinh để điều trị, nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, như lao, viêm phổi, giang mai... đã giảm rất mạnh nhưng phần lớn các bệnh truyền nhiễm mạnh nhất, như bại liệt, vẫn chưa có thuốc chữa. Bài trước cũng có nói, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt từng là một nạn nhân vào năm 1921, nhưng thoát chết và phải ngồi xe lăn.
Số vụ mắc bệnh bại liệt ở Hoa Kỳ liên tục tăng từ đầu những năm 1940. Mỗi mùa hè tới, dịch bại liệt lại xuất hiện ở Hoa Kỳ. Một khi bị nhiễm không có phác đồ điều trị cụ thể nào, nhưng cuối cùng nó có thể được ngăn ngừa bằng cách dùng vaccine phòng bại liệt, nhưng cần nhiều liều để vaccine phát huy tác dụng.
Trong bối cảnh kinh khủng vì bại liệt đó, có hai hướng nghiên cứu vaccine phòng bại liệt ở Hoa Kỳ cuối thập niên 1940 - đầu thập niên 1950, phát triển thành hai loại vaccine sau này được dùng rộng rãi trên khắp thế giới, đều kích thích miễn dịch với bại liệt nhưng dựa trên hai nguyên tắc khác nhau: loại đầu tiên dùng Poliovirus sống đã làm yếu, chủng qua đường uống (Oral Polio Vaccine, OPV) và loại thứ hai dùng tế bào bại liệt chết, hay còn gọi là virus bại liệt không hoạt động (Inactive Polio Vaccine, IPV) chủng qua đường tiêm. Cả hai loại đều có hiệu quả trong việc khống chế truyền bệnh từ người sang người đối với các virus bại liệt tự nhiên, do đó bảo vệ được cả người nhận vaccine và cộng đồng, còn được gọi là miễn dịch nhóm.
Nguyên mẫu vaccine bại liệt đầu tiên trên thế giới là loại virus "sống", do nhà nghiên cứu miễn dịch người Mỹ gốc Ba Lan Hilary Koprowski (ảnh 1) điều chế dựa trên một loại huyết thanh của virus còn sống nhưng đã bị làm yếu và thử nghiệm thành công tại Phòng thí nghiệm Lederle ở Pearl River, New York, Hoa Kỳ. Ông là người đầu tiên điều chế thành công vaccine bại liệt dạng uống, một cậu bé 7 tuổi được uống vào ngày 27/2/1950.
Mặc dù không nổi tiếng bằng hai nhà nghiên cứu sau này là bác sỹ người Mỹ gốc Do Thái Jonas Salk (ảnh 2) và bác sỹ người Mỹ gốc Ba Lan Albert Bruce Sabin (ảnh 3), song thử nghiệm của Koprowski khẳng định rằng có thể ngừa bệnh bại liệt bằng vaccine khi mà căn bệnh đang hoành hành nhiều nơi trên thế giới.
Thế nhưng vì lý do nào đó vaccine "sống" dạng uống của Koprowski không được giới chủ Hoa Kỳ quan tâm và năm 1952 Hoa Kỳ xảy ra vụ bùng dịch bại liệt lớn, khiến hơn 3.000 người chết. Con số này chỉ bằng 1/10 số người chết vì viêm phổi và 1/70 số người chết vì ung thư trong năm ấy nhưng vẫn có những lý do để người ta kinh hãi bệnh bại liệt. Theo cuốn “The Cutter Incident” của Paul Offit, một cuộc thăm dò dư luận tại Hoa Kỳ trong những năm đầu của thập niên 1950, cho thấy nỗi sợ bệnh bại liệt chỉ xếp sau nỗi sợ chết vì vũ khí hạt nhân.
Về phần Salk, tốt nghiệp trung học tại Townsend, một ngôi trường công dành cho học sinh đặc biệt tài năng năm 15 tuổi, Salk đâm đơn xin học vào Đại học Thành phố New York, nơi nổi tiếng vì có độ cạnh tranh cao. Đạt tiêu chuẩn để vào trường rất khó, nhưng khi đã được nhận, sinh viên không phải trả học phí. Khác so với nhiều ngôi trường còn lại ở Hoa Kỳ, người Do Thái và da đen không bị áp định mức, không chịu sự kỳ thị ở đây. Salk tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học tự nhiên năm 1934. Một thời gian sau, Salk theo học y tại Trường Y Đại học New York, tại đây Salk đã góp sức vào nỗ lực nghiên cứu vaccine chống bệnh cúm.
Về phần Sabin, cũng năm 1934 Sabin bắt đầu làm nghiên cứu tại Học viện Y học Dự phòng Lister (Lister Institute of Preventive Medicine) tại Anh, sau đó gia nhập Học viện Nghiên cứu Y khoa Rockefeller (Rockefeller Institute for Medical Research), nay là Đại học Rockefeller. Trong thời này Sabin bắt đầu chú ý về nghiên cứu y khoa, nhất là về bệnh nhiễm trùng. Năm 1939, Sabin qua Bệnh viện Trẻ em Cincinnati (Cincinnati Children's Hospital) tại Cincinnati, Ý. Trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Sabin là Trung tá trong Bộ Quân y Hoa Kỳ, giúp phát triển những vaccine chống sốt xuất huyết Dengue và viêm não Nhật Bản.
Cũng năm 1939, Salk được trao cho cơ hội tham gia nghiên cứu tại Đại học Michigan, dưới sự giám sát của Tiến sỹ Thomas Francis sau khi giành được học bổng của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia. Hai tháng làm việc tại phòng nghiên cứu của Francis là lần đầu tiên Salk được tiếp xúc với thế giới của virus và lập tức mê đắm. Francis và Salk đã nghiên cứu về nhiều loại thuốc gây bệnh cúm và phát triển, hoàn thiện một loại vaccine cúm cho quân đội Hoa Kỳ, khi ấy đã tham gia Chiến tranh Thế thứ Hai. Đây cũng là thời kỳ bắt đầu xuất hiện những tranh cãi đầu tiên về Salk.
Năm 1942, Francis và các nhà nghiên cứu khác, trong đó có Salk đã tiêm vaccine thử nghiệm vào các bệnh nhân tâm thần. Sau đó nhóm tiếp tục phun virus gây cúm vào mũi bệnh nhân nhiều tháng sau khi tiêm vaccine để kiểm tra mức độ hiệu quả. Trong điều kiện ngày nay việc này hoàn toàn bất khả thi, nhưng khi ấy hoạt động thử nghiệm như thế được chấp nhận. Người ta không thể biết rõ liệu có bất kỳ bệnh nhân nào có thể ý thức được rằng họ đang trở thành vật thí nghiệm hay không.
Nhìn từ bối cảnh của năm 1942, người ta cũng dễ thông cảm cho kiểu thử nghiệm như thế hơn. Đại dịch cúm 1918 xảy ra trước đó 24 năm vô cùng chết chóc. 500 triệu người trên toàn cầu nhiễm bệnh và trong đó có từ 50 tới 100 triệu người thiệt mạng tức 3 - 5% quy mô dân số thế giới. Đây là thảm họa tự nhiên chết chóc nhất lịch sử nhân loại. Người ta kinh sợ sẽ có một đại dịch tương tự và muốn ngăn chặn nguy cơ bằng mọi giá.
Salk là người phát hiện và cô lập một biến thể cúm mới và cùng nhóm nghiên cứu phát triển, thêm vào trong loại vaccine cuối cùng năm 1943, là vaccine diệt virus, tức là nó chứa một chủng virus có tác dụng diệt virus không thể gây bệnh nhưng tạo ra các kháng thể có thể ngăn chặn các cuộc tấn công trong tương lai.
Năm 1946, để giữ sự liên hiệp với Bệnh viện Trẻ em, Sabin trở thành giám đốc về Nghiên cứu Nhi khoa tại Đại học Cincinnati. Trong khi bệnh bại liệt càng nguy hiểm, Sabin, cũng như Koprowski và những nhà nghiên cứu khác, tìm kiếm vaccine để tránh hay giảm bớt bệnh này. Để tìm hiểu kỹ hơn Sabin và đồng nghiệp tiến hành khám nghiệm tử thi trên tất cả các trường hợp tử vong ở Cincinnati.
Với kết quả khám nghiệm tử thi thu được ở Cincinnati, Sabin chỉ ra rằng virus bại liệt trước tiên tấn công đường ruột sau đó mới chuyển qua mô thần kinh, tấn công hệ thần kinh trung ương. Sabin đi theo hướng của Koprowski, bắt đầu làm việc với vaccine "sống" và sẽ phát triển thành loại vaccine hiệu quả hơn. Đồng thời, ông nhận thấy vaccine bại liệt uống sẽ vượt trội hơn vaccine bại liệt tiêm, vì sẽ dễ quản lý hơn. Ông bắt đầu phát triển và thử nghiệm nhiều chủng virus ở động vật và nuôi cấy mô. Cuối cùng, ông cũng tìm thấy ba chủng virus đột biến xuất hiện để kích thích sản xuất kháng thể mà không gây tê liệt.
Năm 1947, sau khi kết thúc thời gian làm việc với Francis, Salk được đề bạt làm việc tại Trường Y thuộc Đại học Pittsburgh để thành lập phòng thí nghiệm nghiên cứu virus. Năm 1949, John Enders, Thomas Weller và Frederick Robbins đã phát hiện ra rằng virus bại liệt có thể được phát triển trong nuôi cấy mô mà không có dây thần kinh. Việc Koprowski thử nghiệm thành công vaccine phòng bệnh bại liệt "sống" đã khiển Salk chuyển sự quan tâm tới virus bại liệt, nhằm tìm kiếm một loại vaccine an toàn và hiệu quả như vaccine cúm mà ông đã từng thành công
Năm 1951, các tổ chức quốc tế xác nhận có ba loại virus bại liệ thoang dã (Wildlife Polio Virus,WPV). Vào thời điểm đó, Salk bị thuyết phục rằng có một nguyên tắc giết chết virus mà ông đã sử dụng để phát triển vaccine cúm sẽ có tác dụng đối với bệnh bại liệt. Đồng thời, ông tin rằng nó sẽ ít nguy hiểm hơn vaccine "sống". Vụ bùng dịch bại liệt lớn năm 1952 khiến Salk càng quan tâm hơn, khi ấy tại Bệnh viện Đại học Pittsburgh có hàng dài xe cấp cứu bên ngoài bệnh viện, có lúc tới 17 chiếc nối đuôi nhau, khi nhiều gia đình đưa con trẻ tới điều trị.
Các bác sỹ làm việc tới kiệt sức, tới nỗi họ ngã lăn ra đất ngủ như chết mỗi khi có cơ hội. Y tá chăm sóc các bệnh nhân thì không có thời gian để về nhà. Muốn rời khỏi khu vực cấp cứu, người ta phải đi qua nhiều phòng bệnh, sẽ nghe thấy tiếng một đứa trẻ đang khóc nỉ non, đòi người ta đọc thư cho nó nghe, hoặc cho nó uống nước, hoặc hỏi vì sao nó không thể cử động tay chân. Những âm thanh ai oán khiến người ta khó có thể ngó lơ khi đi qua. Bầu không khí quánh đặc lại vì nỗi đau, cảm giác sợ hãi tột độ và sự tức giận vì bất lực.
Salk quyết định đi theo hướng nghiên cứu dùng mẫu virus đã bị tiêu diệt, không còn khả năng lây nhiễm nữa để tạo vaccine nhằm kích thích cơ thể tạo miễn dịch, dù bị nhiều người khuyên không nên. Đồng thời Salk viết nhiều bài báo khoa học và lý thuyết về virus bại liệt, cũng như lợi ích của vaccine làm từ virus không hoạt động. Khác với Koprowski, nghiên cứu của Salk thu hút được sự chú ý của Quỹ Phòng chống Bệnh liệt trẻ em Quốc gia (NFIP), tổ chức từ thiện do một nạn nhân bại liệt phải ngồi xe lăn, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, lập ra để quyên tiền cho hoạt động nghiên cứu thuốc chống bại liệt. NFIP đã cung cấp sự hỗ trợ tài chính rất lớn cho nghiên cứu của Salk.
Tuy nhiên, Salk gặp khó khăn là phải cần một lượng lớn virus bại liệt để sản xuất vaccine. Bởi vì, virus bị giết sẽ không phát triển trong cơ thể sau khi sử dụng virus sống. Nhờ vào phát hiện của Enders, Weller và Robbins năm 1949, Salk đã phát triển các phương pháp để tăng số lượng lớn của ba loại virus bại liệt trên môi trường nuôi cấy tế bào thận khỉ (tế bào vero line). Cùng đội của mình, Salk dùng phóc-man-đê-hít (formaldehyde, H2CO, còn được biết đến như là mê-ta-nal) để giết chết virus bại liệt nhưng không phá hủy các đặc tính kháng nguyên của nó mà chỉ ức chế hoạt động hóa học.
Năm 1953 là một năm đỉnh dịch, có 391 bệnh nhân bại liệt mới được đưa tới Bệnh viện Đại học Pittsburgh, gần như toàn bộ là trẻ em, có 323 em bị liệt hoàn toàn. Nặng nhất luôn là các bệnh nhân bị virus tấn công vào khu vực hành tủy não, nơi điều khiển hoạt động hô hấp và nhai nuốt. Thường nạn nhân sẽ tử vong sau thời gian ngắn. Những ai còn sống sót sẽ phải nằm yên trong những chiếc phổi máy to lớn, những cỗ quan tài mà họ phải ở cùng cho tới hết phần đời còn lại.
Sau khi thiết lập các yếu tố an toàn và hiệu quả, đội của Salk tiêm loại vaccine IPV mới vào nhiều tình nguyện viên, gồm bản thân Salk, vợ và các con. Tháng 11/1953, tại một cuộc họp báo ở New York, Salk tuyên bố sẽ chịu trách nhiệm cá nhân cho loại vaccine IPV mà mình tạo ra và cũng thông báo đã tiêm vaccine IPV mới vào những người thân nhất của đời mình, bao gồm vợ con. Theo Salk, sau hai liều vaccine IPV, 90% hoặc hơn nữa số lượng cá thể đã có thể hình thành đủ kháng thể để chống lại 3 típ virus bại liệt và với ít nhất 99% được miễn dịch nếu tiêm tiếp liều thứ 3.
Do sự lựa chọn của giới chủ Hoa Kỳ, vaccine của Salk được truyền thông ví như tia sáng trong đêm đen kéo dài, còn Salk là vị thánh ban phép lạ cứu vớt những đứa trẻ Mỹ đáng thương! Bệnh bại liệt từng khiến từ 13.000 tới 20.000 đứa trẻ bị liệt mỗi năm trước khi có vaccine của Salk và Salk trở thành gương mặt đại diện cho nỗ lực vượt nghịch cảnh. Nhờ vậy, Salk trở thành nhà khoa học được nhân dân yêu mến nhất tại Hoa Kỳ, thậm chí có thể là nhà khoa học được yêu mến nhất thế giới, nhưng không được lòng cộng đồng khoa học Hoa Kỳ.
Đồng nghiệp trong giới nói rằng, Salk đã tầm thường hóa sự đóng góp của các nhà khoa học khác, những người thực hiện hàng loạt nghiên cứu tiền đề để vaccine bại liệt có nền móng tốt. Thậm chí, Salk bị cáo buộc đã giảm bớt vai trò của các thành viên trong đội nghiên cứu để nâng cao thành tích của mình. Chưa biết những tranh cãi đó đúng hay sai, nhưng có một thực tế là Salk thường xuyên bị từ chối gia nhập Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, cũng chưa từng được trao giải Nobel. Điều này phần nào cho thấy thái độ của cộng đồng khoa học với Salk.
Trong khi đó, dù không được giới chủ Hoa Kỳ quan tâm nhưng Koprowski và Sabin tiếp tục công việc nghiên cứu vaccine "sống" trong suốt thập niên 1950. Koprowski đi tiên phong trong việc tạo ra những cuộc thử nghiệm vaccine "sống" trên quy mô lớn tại vùng Belgian Congo (Congo thuộc Bỉ) ở Châu Phi. Sau này, Koprowski làm Giám đốc Viện Wistar trong thời gian Viện này phát minh ra vaccine phòng bệnh rubella.
Năm 1954, vaccine bại liệt "sống" vẫn không được thử nghiệm ở Hoa Kỳ và bệnh bại liệt vẫn tiếp tục gây hại cho nhiều đứa trẻ Mỹ hơn bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào khác dù đã có .vaccine "chết" của Salk. Vào thời điểm ấy, ở tuổi 40, nhờ lăng xê của truyền thông Salk đã giống như một đấng cứu thế trong mắt người Mỹ. Với hy vọng của công chúng đè nặng trên vai, Salk làm việc 16 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, để hoàn thiện vaccine mới.
Cuộc thử nghiệm trên diện rộng vaccine của Salk là một chương trình quy mô nhất trong lịch sử Hoa Kỳ khi ấy, có sự tham gia của 20.000 bác sỹ và nhân viên y tế, 64.000 nhân viên trường học và 220.000 tình nguyện viên. Hơn 1.800.000 đứa trẻ đã tham gia thử nghiệm. “Khi bạn tiêm vaccine bại liệt cho một đứa trẻ, bạn sẽ không ngủ ngon trong hai hoặc ba tháng” - Salk nói về cảm giác của mình khi ấy.
Những nỗ lực và cố gắng cuối cùng đã được đền đáp, ngày 12/4/1955, Tiến sỹ Francis tuyên bố vaccine của Salk được xác nhận là an toàn và hiệu quả. Salk nhận được báo cáo rằng vaccine bại liệt "chết" do ông tạo ra là an toàn, mạnh mẽ và hiệu quả đạt tới 90% trong việc bảo vệ chống lại bệnh bại liệt. Chuông ngân vang trên khắp nước Mỹ, vô số bậc phụ huynh và giáo viên đã chảy nước mắt vì từ nay trẻ con không còn phải sống trong sợ hãi nữa.
Cùng ngày hôm đó, nhà báo lừng danh Edward R. Murrow hỏi Salk rằng ai nắm bản quyền vaccine bại liệt. “Chà, tôi có thể nói đó là nhân dân”, Salk trả lời, “Không có bản quyền nào cả. Liệu anh có thể đăng ký bản quyền mặt trời không?”. Vaccine "chết" của Salk nhanh chóng được đón nhận trên toàn nước Mỹ và do như đã nói, Salk dành bản quyền vaccine "chết" của ông cho nhân loại, nên Liên Xô cũng thử áp dụng phương pháp của Salk.
Cùng năm 1955, Koprowski và Sabin trình nghiên cứu của họ tại Thụy Điển và Viện Nghiên cứu tủy xương được thành lập tại Liên Xô do nhà vi trùng học và nhà virus học Xô-viết dày dạn kinh nghiệm Миха′ил Петр′ович Чумак′ов (Mikhail Petrovich Chumakov, ảnh 4) đứng đầu. Ngay từ thời còn trẻ, Chumakov đã bị mắc căn bệnh viêm não truyền nhiễm nên mất thính giác và liệt tay phải, nhưng điều này không ngăn cản ông tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu virus và tìm cách chống lại chúng.
Bất chấp Chiến tranh Lạnh và cuộc đối đầu chính trị giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, các nhà khoa học của hai nước vẫn quyết định hợp tác. Chumakov đã gặp và nói chuyện với tác giả của cả 2 loại vaccine Hilary Koprowski - Albert Sabin và Jonas Salt. Sabin đã thuyết phục Bộ Y tế Liên Xô thử nghiệm vaccine "sống", sau đó các nhà khoa học Hoa Kỳ đã vượt qua mọi thủ tục để cung cấp cho Liên Xô những chủng virus cần thiết để tiến hành sản xuất vaccine "sống" phục vụ các thử nghiệm ở Liên Xô, còn Koprowski - Sabin thì thử nghiệm ở México, bởi khi ấy Chính phủ Hoa Kỳ vì lý do nào đó đã chấp nhận vaccine của Salk là công cụ dập dịch chủ đạo.
Tại Hoa Kỳ, dữ liệu lưu trữ cho thấy năm 1955 có khoảng 20.000 ca nhiễm virus bại liệt, trong vòng 2 năm, hoạt động sản xuất và tiêm hàng loạt loại vaccine "chết" của Salk đã đẩy số ca nhiễm xuống dưới 6.000. Tuy nhiên, trên cơ sở các chủng virus của Salk, Chumakov và các nhà khoa học Liên Xô đã chứng minh vaccine "chết" của Salk không được như truyền thông phương Tây mô tả.
Nó không thật hiệu quả và tốn kém, phải tiêm ít nhất hai lần nhưng hiệu quả thì rất thấp, còn xa mới được 1%. Nó có hiệu lực để tránh phần nhiều triệu chứng của bệnh bại liệt, nhưng không ngăn ngừa được các nhiễm trùng đường ruột đầu tiên, điều mà Sabin đã chứng minh trước đó.
Trên cơ sở các chủng virus của Koprowski - Sabin, Chumakov trở nên nổi tiếng nhất sau khi Liên Xô thực hiện các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, cho ra phương án tốt nhất, quy trình chế tạo an toàn nhất, sản xuất thành công vaccine "sống", trên thực tế đã chứng tỏ có hiệu quả ngay sau đó khi thử nghiệm, dẫn đến việc cấp phép cho vaccine "sống" dạng uống Koprowski - Sabin. Vì vaccine dành cho phần lớn trẻ em, nên Chumakov đưa ra vaccine dưới dạng kẹo nên không cần phải tiêm.
Cùng năm 1957, Sabin phát triển một liều vaccine "sống" dựa trên phương thức uống, gồm các biến thể suy yếu của cả ba loại virus bại liệt và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thử nghiệm trên khắp thế giới với nhiều trẻ em ở Liên Xô, Hà Lan, México, Chile, Thụy Điển và Nhật Bản được uống.
Đến năm 1959 thì vaccine của Salk đã xuất hiện ở 90 quốc gia, giúp tỷ lệ mắc bệnh bại liệt giảm mạnh ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Còn Liên Xô với sự trợ giúp của vaccine kẹo đã nhanh chóng ngăn chặn một đợt dịch bệnh bại liệt bùng phát cấp tính ở các nước Cộng hòa vùng Baltic, cũng năm 1959.
Nhà khoa học Albert Sabin viết thư chúc mừng thành công của Liên Xô trong chiến dịch chống lại bệnh bại liệt quy mô và nhanh chóng, gọi đùa Chumakov là "Tướng Chumakov". Sau đó, vaccine kẹo được triển khai dùng trên quy mô toàn Liên Xô. Trong khi đó, những năm 1958 - 60, Koprowski đã chủng vaccine "sống" cho 7 triệu trẻ em ở Ba Lan để chống lại các típ virus PV1 và PV3.
Tại Việt Nam, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị các nước Xã hội Chủ nghĩa giúp đỡ y tế từ thời Kháng chiến chống Pháp và đạt được nhiều tiến bộ về vệ sinh dịch tễ trong kế hoạch năm năm đầu tiên sau Hòa bình lập lại trên miền Bắc 1954, nhưng cũng giống như các nước khác vào thời gian này, như bài trước đã nói, có tới 17 ngìn người mắc bệnh bại liệt và 500 người tử vong. Hàng ngìn trẻ em bị di chứng bại liệt suốt đời, tỷ lệ mắc lên đến trên 126/100 ngìn dân.
Trước thành công của Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đề nghị Liên Xô giúp đỡ, trước tiên là vaccine chống dịch trước mắt, sau đó là kỹ thuật nền tảng về lâu dài để các nhà khoa học non trẻ của ngành y học Việt Nam tự sản xuất vaccine uống ngọt ngào để chủ động phòng chống bại liệt như đã nói.
Cũng trong giai đoạn đó, tình hình dịch bại liệt ở Nhật Bản không tồi tệ như ở nhiều nước khác, ghi nhận chỉ vài nghìn ca mỗi năm. Vì vậy, Chính phủ Nhật Bản và giới dịch tễ có phần chủ quan, tin tưởng số lượng khiêm tốn vaccine "chết" của Salt nhập khẩu từ Hoa Kỳ là đủ giải quyết vấn đề.
Họ phải trả giá khi đầu năm 1960 dịch bại liệt bùng phát tại Nhật Bản trong khi lượng dự trữ vaccine "chết" Salk không đủ tiêm chủng quy mô lớn trong khi hiệu quả của chúng, như đã nói, là rất thấp. Hàng đoàn người dài xếp hàng tại các điểm tiêm chủng, những phụ nữ lo lắng ôm con trên tay, những đứa trẻ lớn hơn đứng cạnh bố mẹ. Nhiều bà mẹ phẫn nộ, lo sợ cho số phận của con mình.
Nhưng giới chức Nhật Bản không vội vàng quan tâm đến vaccine “sống” Koprowski - Sabin - Chumakov mặc dù đã nhận thấy hiệu quả từ đợt thử nghiệm của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1957, bởi họ trung thành với Hoa Kỳ, họ còn bận thu xếp các hợp đồng cung cấp vaccine "chết" Salk với các công ty Hoa Kỳ và Canada. Điều này làm bùng lên sự bất mãn dẫn đến các cuộc biểu tình trên khắp cả nước, một số cuộc biểu tình kéo dài cả tháng trên đường phố và vây quanh Bộ Y tế.
Cùng với các cuộc biểu tình, các cuộc nghiên cứu vẫn đang tiến hành. Trong lúc đó, tháng 12/1960 nhà khoa học từ Hiệp hội Y khoa Nhật Bản Masao Kubo đã có chuyến thăm tới Mát-xcơ-va, chứng kiến độ tin cậy của vaccine “sống” được sản xuất tại Liên Xô cũng như giá thấp hơn so với các nước khác. Như vậy, Chính phủ Nhật có ít lý do để từ chối nhập khẩu chúng hơn.
Sang năm 1961, phong trào phản đối mạnh mẽ trên toàn quốc đã hình thành, quy tụ các bậc cha mẹ, các bác sỹ và nhà hoạt động chính trị uy tín. Tất cả họ đều đòi hỏi mua vaccine “sống” từ Liên Xô và tiến hành chủng ngừa hàng loạt. Như nhà nghiên cứu Izumi Nishizawa ghi nhận, điều này góp phần chuyển hướng ý tưởng vaccine “cho con tôi” sang vaccine “cho tất cả trẻ em” trong nước Nhật. “Chúng tôi yêu cầu cung cấp vaccine 'sống' càng sớm càng tốt! Mỗi ngày, trẻ em bị ám ảnh bởi một loại virus vô hình. Bạn chưa có con? Nghiên cứu tương ứng chả phải đã được thực hiện ở nước ngoài rồi sao? Đây không phải là lý do công ty dược phẩm không hài lòng hay sao?".
Ngày 19/6/1961 xảy ra cuộc biểu tình rầm rộ khiến cảnh sát không thể ngăn cản các bà mẹ ở Tokyo xông vào tòa nhà Bộ Y tế đưa yêu sách mua vaccine “sống” từ Liên Xô.
Ngày 22/ 6, Bộ Y tế đầu hàng. Sau đó, có thông báo rằng Liên Xô sẽ cung cấp cho Nhật 13 triệu liều vaccine "sống", qua trung gian công ty dược Iskra Industry của Nhật Bản. Việc giao hàng được tổ chức nhanh chóng. Nhà báo Mikhail Efimov, người đứng đầu Cục Thông tấn ở Nhật Bản viết: "Đám đông hàng ngàn người ra tận sân bay để chào đón máy bay chở vaccine của Hãng hàng không Aeroflot".
Việc chủng ngừa bại liệt ở Nhật Bản nhanh chóng mang lại kết quả: đến mùa thu, dịch bệnh bại liệt giảm dần, những trẻ em Nhật bị ảnh hưởng sau dịch bại liệt được mang kẹp nắn xương ống chân của Liên Xô. Sau một vài năm căn bệnh này đã thực sự bị xóa sổ tại Nhật. Người Nhật Bản thế hệ đó cảm ơn vì điều này, họ cảm ơn các nhà khoa học Mỹ gốc Ba Lan Hilary Koprowski - Albert Sabin, họ cảm ơn nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, chứ không cảm ơn bác sỹ người Mỹ gốc Do Thái Jonas Salk. Các bạn sẽ khó tìm được thông tin này trên truyền thông phương Tây, có thể tìm kiếm dễ hơn nếu biết tiếng Nga https://yandex.ru/search/?text=Как+СССР+помогал+вакцинировать+японцев
Sau những thành công trên khắp thế giới, cuối cùng vaccine "sống" của Koprowski - Sabin - Chumakov cũng được Vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ (United States Public Health Service) phê chuẩn sản xuất thương mại tại Hoa Kỳ năm 1961. Đây là sáng kiến dẫn đến loại trừ dịch bệnh bại liệt khỏi nước Mỹ, nhưng cũng phải đến hơn 30 sau mới thành công. Đồng thời Tổ chức Y tế Thế giới cũng dùng vaccine "sống" được sản xuất tại Liên Xô làm tiêu chuẩn chung của thế giới để phòng ngừa bại liệt.
Do dễ sản xuất, giá thành rẻ nên vaccine "sống" Sabin nhanh chóng thay thế vaccine "chết" do Salk chế ra tại Hoa Kỳ. Dù vaccine "chết" của Salk không còn được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ nhưng nhờ quảng cáo của giới chủ Hoa Kỳ, người Mỹ vẫn ghi nhận công lao to lớn của ông trong việc ngăn chặn nỗi kinh hoàng mà bệnh bại liệt gây ra với người Mỹ, trước khi vaccine của ông được thay thế bởi vaccine "sống" Sabin.
Tại Việt Nam, dịch bệnh bại liệt cũng đã giảm nhờ vaccine "sống" Liên Xô. Đến năm 1961, tỷ lệ mắc bại liệt giảm còn 3,09/100 nghìn dân. Bước thứ hai là tự sản xuất vaccine "sống" Koprowski - Sabin - Chumakov để chủ động chống bại liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý đặc biệt chương trình này, nhắc nhở ngành Y coi Liên Xô là thầy. Trước trọng trách Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng Y tế rất quyết tâm trong chỉ đạo.
Năm 1962, những lô vaccine phòng đậu mùa và bại liệt Việt Nam gắn với tên tuổi bác sỹ trẻ Hoàng Thủy Nguyên chính thức xuất xưởng. Những năm sau đó, tỷ lệ người dân mắc bại liệt giảm rõ rệt. Chương trình trở thành biểu tượng hòa bình trong Kháng chiến chống Mỹ.
Tiếp sau vaccinephòng đậu mùa và bại liệt, Việt Nam phát triển vaccine phòng bệnh tả uống, từ công nghệ được Thụy Điển chuyển giao. Từ những bước chân khai phá đầu tiên của bác sỹ Hoàng Thủy Nguyên, bằng nỗ lực không ngừng nghỉ, các nhà khoa học trẻ Việt Nam liên tục nghiên cứu, sản xuất hơn mười loại vaccine khác ở những thời điểm đáng nhớ.
Lợi ích của tiêm chủng tại Việt Nam là vô cùng lớn, chương trình Tiêm chủng Mở rộng đã được Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những chương trình y tế công cộng hiệu quả và thành công nhất ở Việt Nam. Đó là một trong những đóng góp lớn lao của ngành Y tế Dự phòng vì những thế hệ giống nòi Việt Nam khỏe mạnh.
Việt Nam đã thanh toán bệnh đậu mùa vào năm 1978, trước thế giới hai năm. Nó đã cho Việt Nam sự tự tin để theo đuổi việc khống chế, đẩy lùi và thanh toán nhiều dịch bệnh nguy hiểm như bệnh bại liệt, một số bệnh dịch đã giảm số người nhiễm hàng trăm đến hàng nghìn lần so với những năm trước khi có Chương trình Tiêm chủng Mở rộng như bạch hầu, ho gà, sởi... Nhiều bệnh dịch lưu hành khác có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn, như: sốt xuất huyết, viêm não virus, lao, thương hàn, tả đã được khống chế; không gây thành các dịch lớn, hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong.
Xóa sổ bệnh bại liệt là mục tiêu của một nỗ lực y tế công cộng đa quốc gia nhằm loại bỏ vĩnh viễn tất cả các trường hợp nhiễm bệnh bại liệt trên toàn thế giới, cùng với bệnh giun chỉ (Dracunculiasis hoặc Guinea-worm disease), bắt đầu từ năm 1988, khi đó trên thế giới có 350.000 ca nhiễm bại liệt hoang dã tại hơn 125 quốc gia, do Chính phủ các nước dẫn dắt cùng 3 đối tác: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Quỹ Rotary International, trên cơ sở việc xóa sổ thành công hai bệnh trước đó http://www.worldwatch.org/node/1644
Cho đến nay, theo Tổ chức Y tế Thế giới công bố, mới chỉ có bệnh đậu mùa đã được loại bỏ hoàn toàn trên thế giới, sau Việt Nam hai năm, vào năm 1980 http://www.who.int/mediacentre/factsheets/smallpox/en/ và bệnh dịch tả trâu bò năm 2010 https://www.bbc.co.uk/news/science-environment-11542653 Từ năm 1990, tỷ lệ trẻ em Việt Nam dưới một tuổi được uống đủ ba liều vaccine phòng bại liệt ngọt ngào tự sản xuất trong nước từ năm 1962 được duy trì trên 90%, là tiền đề để Việt Nam thanh toán bệnh bại liệt năm 2000.
Những nỗ lực bất chấp khoảng cách chính trị của Koprowski, Sabin, Chumakov và những người như các ông cuối cùng đã khiến bệnh bại liệt bị tiêu diệt ở Bắc Mỹ năm 1994 và tại Nam Mỹ cùng nhiều quốc gia khác sau đó. Từ năm 1996, Chính phủ các nước và các tổ chức phi lợi nhuận đã hợp tác thực hiện các chiến dịch tiêm chủng kéo dài tại Châu Phi nhằm đẩy lùi virus bại liệt. Ngoài các tổ chức đã nói trên còn có Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (US. CDC) và Quỹ Bill & Melinda Gates (BMGF) tham gia chiến dịch thông qua Sáng kiến Xóa bỏ Bại liệt Toàn cầu (GPEI).
Cũng với Việt Nam năm 2000, bệnh bại liệt được tuyên bố đã loại bỏ chính thức ở 37 quốc gia phía tây Thái Bình Dương, bao gồm cả Trung Quốc và Úc. Từ năm 2002 Việt Nam không còn bệnh dịch hạch và Châu Âu cũng tuyên bố không còn bệnh bại liệt. Tuy nhiên, đến nay Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ vẫn khuyến cáo tiêm vaccine bại liệt nhắc lại cho khách du lịch và những người sống tại các quốc gia có dịch bệnh. Trong khi bệnh này hiếm gặp tại các nước phương Tây thì Nam Á và Châu Phi là nơi có các ca bệnh nhiều nhất, đặc biệt là Pakistan, Afghanistan và Nigeria.
Những năm 2000 - 2001, Việt Nam chuyển giao miễn phí công nghệ sản xuất vaccine phòng bệnh tả uống cho Viện Vaccine Nam Triều Tiên và từ đó một công ty của Ấn Độ đã có bản quyền sản xuất vaccine tả uống xuất khẩu khắp thế giới. Đến năm 2005, Việt Nam loại trừ uốn ván sơ sinh.
Cuối năm 2003, đại dịch cúm gia cầm xảy ra ở các nước trong khu vực mà Việt Nam là điểm nóng, hàng triệu gia cầm bị chết và bị tiêu hủy, thiệt hại lên tới hàng nghìn tỷ đồng, nhiều trường hợp cúm gia cầm A/H5N1 lây sang người với triệu chứng lâm sàng trầm trọng, tỷ lệ tử vong cao. Sau hai năm dịch bệnh xuất hiện, biện pháp phòng bệnh bằng vaccine mới được chấp nhận và nguồn thuốc chủ yếu nhập từ các doanh nghiệp của Trung Quốc. Tuy nhiên, vaccine nhập từ Trung Quốc có hạn chế với một số biến chủng của virus cúm A/H5N1 tại Việt Nam, số liều đóng gói rất lớn (500 liều/lọ), không thích hợp với điều kiện chăn nuôi gia cầm ở nước ta.
Trước thực trạng trên, từ kết quả của đề tài độc lập cấp Nhà nước Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất vaccine cúm A/H5N1 cho gia cầm giai đoạn 2006 - 2008, Giáo sư Tiến sỹ Lê Trần Bình và Phó Giáo sư Tiến sỹ Đinh Duy Kháng - Viện Công nghệ Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) kết hợp với Tiến sỹ Trần Xuân Hạnh - Công ty cổ phần thuốc Thú y Trung ương (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) triển khai sản xuất vaccine để dập tắt dịch bệnh này. Đây là vaccine cúm đầu tiên do Việt Nam tự nghiên cứu và được công ty Công ty Cổ phần Thuốc thú y Trung ương sản xuất với tên thương phẩm NAVET-VIFLUVAC, được đánh giá có chất lượng tốt, được trao Giải thưởng Trần Đại Nghĩa năm 2019.
Từ tháng 1/2011, không có ca nhiễm bệnh bại liệt nào được báo cáo ở Ấn Độ, từ đó virus bại liệt hoang dã chỉ còn phổ biến ở 3 quốc gia: Nigeria, Pakistan và Afghanistan mặc dù nó tiếp tục gây bệnh ở các quốc gia lân cận do sự truyền nhiễm ẩn hoặc tái phát. Ví dụ, thay vì loại bỏ 10 năm trước, bại liệt tái phát ở Trung Quốc vào tháng 9/2011 liên quan đến dòng truyền bệnh chính từ những người láng giềng Pakistan.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nếu không có ca bệnh bại liệt tự nhiên nào được thông báo ở một quốc gia trong vòng 2 năm, thì quốc gia đó sẽ là nước không còn bệnh bại liệt và vào tháng 2/2012, Ấn Độ được đưa ra khỏi danh sách các nước có bệnh bại liệt nhiều. Năm này chỉ có 223 ca nhiễm bệnh bại liệt ở năm quốc gia. Chỉ còn Afghanistan, Nigeria và Pakistan là chưa bao giờ làm gián đoạn việc truyền virus bại liệt hoang dã.
Sau nhiều nỗ lực, năm 2015 là năm đáng ghi nhớ của ngành sản xuất vaccine của Việt Nam khi được Tổ chức Y tế Thế giới cấp Chứng nhận Hệ thống Quản lý Quốc gia về vaccine (NRA). Thời điểm đó, Việt Nam được đánh giá là một trong 45 quốc gia có ngành công nghiệp vaccine và là một trong 39 quốc gia đạt NRA.
Chưa đầy một năm sau, năm 2016, Việt Nam đã đánh dấu mốc quan trọng trên bản đồ các quốc gia sản xuất vaccine khi tự sản xuất được vaccine 2 trong 1 - phối hợp phòng sởi - rubella (MR) chất lượng cao ứng dụng công nghệ Nhật Bản, trở thành một trong 25 quốc gia sản xuất được vaccine trên thế giới và là nước thứ tư tại Châu Á có thể sản xuất vaccine MR sau Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc. Tại thời điểm này, trường hợp bại liệt cuối cùng ở Châu Phi được ghi nhận tại Nigeria, căn bệnh chỉ còn lại ở hai nước Afghanistan và Pakistan.
Từ tháng 3/2018, vaccine MR Việt Nam đã được tiêm với quy mô nhỏ bốn tỉnh ở bốn miền khác nhau, sau đó từ tháng 4, vaccine MR Việt Nam được dùng trên quy mô toàn quốc cho trẻ từ 18 tháng tuổi trong Tiêm chủng Mở rộng. Ông Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng khi đó đã nhấn mạnh, việc đưa vaccine MR Việt Nam vào Tiêm chủng Mở rộng là cần thiết vì dân số Việt Nam đông, giúp giảm chi phí khi không phải nhập ngoại vaccine MR. Đồng thời, bảo đảm an ninh về vaccine, không bị thụ động vào nguồn vaccine nhập ngoại, phủ được rộng hơn cho đối tượng 18 tháng tuổi và những vùng nguy cơ.
Năm 2018 cũng đánh dấu thành tựu lớn tiếp theo của ngành y tế Việt Nam - sản xuất thành công vaccine cúm mùa 3 trong 1 gồm cúm A/H1N1/09, A/H3N2, cúm B và vaccine cúm tiền đại dịch A/H5N1. Đây là loại vaccine cúm đầu tiên do Việt Nam sản xuất góp phần chủ động phòng chống dịch bệnh, giảm chi phí. Dự án sản xuất vaccine sởi do Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất Vaccine và Sinh phẩm Y tế, Bộ Y tế (POLYVAC) thực hiện, đã hoàn thiện quy trình sản xuất vaccine sởi, vaccine phối hợp sởi - rubella và sản xuất thành công vaccine chất lượng cao đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ chức Y tế Thế giới, được nhận giải thưởng của Chủ tịch Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
Hiện Việt Nam là một trong 14 quốc gia được Tổ chức Y tế Thế giới đặt hàng vaccine cúm (chủng virus H1N1, H3N2 và B) phục vụ phòng chống đại dịch trên thế giới. Viện Vaccine và Sinh phẩm Y tế ở Nha Trang (IVAC) đang nghiên cứu vaccine cúm và vaccine 5 trong 1, được đưa vào Chương trình Sản phẩm Quốc gia nghiên cứu. Chúng ta tiến tới sản xuất vaccine đa giá, các loại vaccine nhiều kháng nguyên để trẻ em đỡ phải tiêm nhiều mũi, tránh hiện tượng bỏ mũi tiêm ở trẻ nhỏ. Đằng sau kết quả này là nỗ lực to lớn của rất nhiều nhà khoa học đã âm thầm nghiên cứu trong nhiều năm dài.
Cũng năm 2018, Tổ chức Y tế Thế giới báo cáo số ca nhiễm bại liệt hoang dã lan từ người sang người chỉ còn ở Afghanistan và Pakistan với tổng số 33 ca, giảm đáng kể so năm 1988 https://extranet.who.int/polis/public/CaseCount.aspx nhưng có tới 104 ca bại liệt từ vaccine "sống" Hoa Kỳ do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ. Năm 2019 bại liệt hoang dã tăng lên 175 ca và bại liệt từ vaccine tăng lên 364 ca http://polioeradication.org/polio-today/polio-now/this-week/
Thế giới đã tiến gần đến mức diệt trừ bệnh bại liệt, ngày 28/8/2020, Ủy ban Chứng nhận Khu vực Châu Phi về xóa sổ Bại liệt của cơ quan y tế Liên Hợp Quốc tuyên bố rằng bệnh bại liệt hoang dã đã bị xóa sổ ở Châu Phi sau bốn năm không ghi nhận ca nhiễm mới. Từ năm 1996, các nỗ lực xóa sổ mầm bệnh đã bảo vệ tới 1,8 triệu trẻ em và cứu sống khoảng 180.000 người với gần 9 tỷ liều vaccine bại liệt đã được phân phối.
Tổ chức Y tế Thế giới cho hay: "Virus bại liệt có nguồn gốc từ vaccine trong quá khứ đã nhanh chóng bị tiêu diệt sau khoảng 3 đợt chủng ngừa chất lượng cao. Giải pháp cho tất cả các đợt bùng phát bại liệt là giống nhau: chủng ngừa cho mọi trẻ em nhiều lần bằng vaccine dạng uống nhằm ngăn chặn bệnh lây lan, bất kể nguồn gốc của virus là gì". Tuyên bố này hé mở cho thấy hiệu quả của vaccine từ Hoa Kỳ do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ và Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ.
Tuy nhiên, ngay sau đó chỉ một tuần, Tổ chức Y tế Thế giới cho biết một đợt dịch bại liệt tái bùng phát ở Đông Bắc Châu Phi, bắt nguồn từ vaccine đường uống. Đây là thất bại nặng nề trong nỗ lực xóa bỏ căn bệnh của con người lần thứ hai trong lịch sử - lần đầu tiên là bệnh đậu mùa. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới báo cáo về hai trẻ ở Sudan, một từ bang Nam Darfur, một ở bang Gedarif, gần biên giới với Ethiopia và Eritrea, đều được uống vaccine phòng ngừa bại liệt trước đó đã mắc bệnh bại liệt. Theo tổ chức, các đợt bùng phát có liên quan đến chương trình chủng ngừa tại nước Cộng hòa Sát (Chad), lây sang Sudan thành dịch lớn, và khi tổ chức công bố ngày 2/9, dịch đã lan rộng đến Cameroon https://www.unicef.org/sudan/press-releases/unicef-who-support-sudan-efforts-close-vaccine-derived-polio-outbreak
Tổ chức Y tế Thế giới cũng phát hiện 11 trường hợp bại liệt có nguồn gốc từ vaccine ở Sudan, tìm thấy virus trong mẫu môi trường. Dự báo còn khá nhiều bệnh nhân khác chưa được báo cáo, bởi virus có thể lan truyền khá nhanh trong nguồn nước ô nhiễm, ảnh hưởng đến trẻ em dưới 5 tuổi. Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra giải thích rằng vùng này đang có nạn đói, nhiều trẻ em suy kiệt. Những em này đã không chống đỡ được virus làm yếu trong vaccine.
Có ba loại virus bại liệt hoang dã: 1, 2 và 3. Vaccine được sử dụng phổ biến nhất là vaccine bại liệt đa trị (OPV Sabin cải tiến) tạo ra khả năng miễn dịch ở niêm mạc (mô mềm) của ruột đối với cả ba loại, ngăn chặn virus xâm nhập vào máu. Nhưng vaccine đơn trị mới được phát triển có hiệu quả hơn tạo ra khả năng miễn dịch chống lại một loại duy nhất.
Nhược điểm là trong những trường hợp hiếm hoi, virut vaccine sống biến đổi thành dạng tê liệt, được bài tiết từ ruột và có thể lưu hành trong các cộng đồng nơi khả năng miễn dịch thấp. Đây được gọi là viêm đa cơ có nguồn gốc từ vắc-xin lưu hành và là lý do tại sao hầu hết các nước phát triển như Úc đã chuyển sang vắc-xin bại liệt bất hoạt (IPV). Vắc-xin tiêm này gây miễn dịch trong máu nhưng không phải trong ruột. Thực tế, virus bại liệt sống trong vaccine uống có thể biến đổi thành dạng đủ khả năng lây nhiễm, làm bùng phát các đợt dịch mới.
Thế nhưng chưa phải đã hết, vào ngày 17/10, thêm 22 trường hợp bị tê liệt cấp tính, một triệu chứng đặc trưng của bệnh bại liệt lâm sàng, được báo cáo từ tỉnh Deir Al Zour, Syria. 180 trường hợp mắc bệnh bại liệt nữa được báo cáo trong năm 2020 tại các khu vực do quân Hồi giáo Al Shabab kiểm soát ở Somalia, nơi đã cấm tiêm chủng. Sự bùng phát đã tràn sang các nước láng giềng với 14 trường hợp ở Kenya và bảy ở Ethiopia. Trên toàn thế giới, đã có 332 trường hợp trong năm 2020 - cao hơn gần 50% so với tổng số năm 2019 https://www.unicef.org/sudan/press-releases/unicef-who-support-sudan-efforts-close-vaccine-derived-polio-outbreak
Chủng virus tóm được là vaccine-derived poliovirus type 2 cVDPV2, không phải hoang dã tự nhiên mà có nguồn gốc từ vaccine "sống" Hoa Kỳ do Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ https://www.newagebd.net/article/117757/gates-foundation-vaccine-spreads-polio-across-africa
Truyền thông phương Tây đăng những bài lấp liếm, nhưng nó cũng không thể né nói ra sự thật về cái Quỹ Bill & Melinda Gates https://www.theguardian.com/global-development/2020/sep/02/vaccine-derived-polio-spreads-in-africa-after-defeat-of-wild-virus thứ mà có quá nhiều tin tức về việc nó lợi dụng tài trợ để tiến hành các nghiên cứu mờ ám tại Châu Phi.
Ngày nay đã có nhiều những phương pháp làm yếu virus chính xác hiệu quả, như ở mức gen do Nga làm, cũng như rất nhiều phương tiện nghiên cứu. Khi có dịch mới thì người ta đồng loạt thử nghiệm nhiều phương pháp làm yếu, nhanh chóng cho ra vaccine hiệu quả cao.
Nhưng vaccine "sống" Sabin mà Hoa Kỳ sản xuất dưới sự tài trợ của Quỹ Bill & Melinda Gates đã quá lạc hậu, vẫn dậm chân ở thời điểm 1961, còn chưa bằng vaccine "sống" Việt Nam năm 1962. Theo như giải thích của Tổ chức Y tế Thế giới, khi cơ thể không chống đỡ được virus làm yếu trong vaccine Bill & Melinda Gates thì virus phát triển, do chúng không được làm yếu theo phương pháp hiện đại, nên chỉ cần chúng nhân bản được thì chúng khỏe mạnh như virus thường chưa hề được làm yếu, thế là vaccine "sống" Bill & Melinda Gates biến thành virus gây bùng nổ dịch.
Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận nguy cơ bại liệt lây lan rộng hơn là khá cao, chủ yếu do mật độ di chuyển của người dân trong khu vực. Hơn 10 quốc gia châu Phi đang chống chọi với căn bệnh này, bao gồm Angola, Congo, Nigeria và Zambia. Bại liệt hoang dã vẫn còn lưu hành ở Afghanistan và Pakistan và cả hai quốc gia cũng phải vật lộn để ngăn chặn chủng bệnh có nguồn gốc từ vaccine.
Tình trạng vaccine "sống" Bill & Melinda Gates biến thành virus gây bùng nổ dịch bại liệt đang được tái hiện trong bối cảnh đại dịch #Covid hiện nay, khi mà các vaccine do phương Tây phát triển được cấp phép khẩn cấp đang chứng minh khả năng của nó!
Tham khảo:
http://www.historyofvaccines.org/content/timelines/polio
http://www.foto-volos.ru/kak-sssr-pomogal-vakczinirovat-yaponczev/
Nguồn: Giải độc thông tin, tiêu đề là của Sưu tầm









