Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020


CÓ THỂ BẠN THỪA BIẾT ?

Tháng 5/1954, trong lúc 16.200 quân Pháp và tay sai bản xứ bị quân đội Việt Nam vây chặt tại Điện Biên Phủ thì ở New York, Hồng y Spellman được sự đồng tình của Giáo hoàng Pius XII tiến hành một cuộc vận động hành lang nhằm thả bom nguyên tử xuống miền Bắc Việt Nam để "cứu nguy" cho sự thống trị của nền văn minh KiTô ở Việt Nam.

Chính quyền Mỹ đã chuẩn bị kế hoạch thả từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử cỡ 31 kiloton với sức công phá gấp 3 lần quả từng thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản trong Thế chiến II. Tuy nhiên, một số thành viên có đầu óc thực tế hơn trong Nhà trắng và Lầu Năm góc đã dừng kế hoạch do tính hiệu quả trên thực tế cũng như lo sợ phản ứng của Liên Xô sẽ châm ngòi cho Thế chiến III. Chi tiết kế hoạch được bạch hóa trong cuốn đầu tiên trong bộ 17 cuốn viết về Chiến tranh Việt Nam của Phòng Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản vào năm 1984.

Giáo hoàng Pius XII là một trong những người đã dựng lên con bài Bảo Đại, tiếp đó cùng đồ đệ là Hồng Y Spellman (Tổng giám mục New York) vận động để đưa Ngô Đình Diệm từ một cá nhân không mấy tên tuổi và gần như không có công trạng gì từ Mỹ về miền Nam Việt Nam cầm đầu chính thể "người Việt quốc gia" sau thất bại của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ.
--------
Theo sử gia Avro Manhattan trong cuốn "Vietnam why did we go?" (Việt Nam: tại sao chúng ta đến đó?), Nxb Chick, California, 1984, tr 72. [Bản dịch của học giả Nguyễn Mạnh Quang đã đăng trên sachhiem.net]

Ảnh: Chân dung 2 bà mẹ đỡ đầu của Cuốc da Việt Nam và Việt Nam Cọng hành.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Bọn nghẹo vàng vẫn thường mở mồm kêu quận đội Cộng Sản tàn sát dân Huế, nhưng một nhà báo mỹ của tờ " The Michigan Daily " xuất bản năm 1968 đã kể lại và viết lại những điều khác. Đây cũng là một bằng chứng để đấu tranh lại luận điệu của lũ tàn dư còn đang chống phá:
Huế: Cái chết của một thành phố đẹp Việt Nam.
(Hue: Death of Vietnam's Beautiful City)
Bởi Steve D'Arazien
" Copy lại "
Bài dịch:
HUẾ, NAM VIỆT NAM (CPS)
- "Huế là cái gì đó khá đặc biệt với người Việt Nam. Nó không như Sài Gòn. Ở Huế, mọi người dạo bước một cách kiêu kỳ. Khi đó, họ mặc những bộ quần áo đẹp nhất. Và họ tự hào. Huế là Việt Nam."
Một người Việt quay phim cho CBS đã nói. Huế giữ một vị trí đặc biệt trong trái tim của người Việt Nam. Nó là cố đô của Việt Nam, là thành phố lâu đời nhất, ít chịu ảnh hưởng ngoại lai nhất. Và đó là thành phố đẹp nhất đối với cô.
Năm 1966, khi Hòa thượng Thích Trí Quang lãnh đạo Phong trào Biến động (miền Trung) chống lại chế độ của Kỳ để đòi hỏi quyền tự do và một chính phủ dân sự, Huế đã liên kết với các Phật tử vũ trang và gần như đã thành công trong việc hất cẳng các lực lượng của chính quyền tại Vùng I chiến thuật. Kể từ đó chính quyền Sài Gòn đã có một mối hận với Huế. Cơ hội để chính quyền Sài Gòn đè bẹp Huế chỉ đến sau 2 năm.
Sáng 31 tháng 1, Mặt trận Giải phóng Dân tộc (MTGPDT) đã chiếm thành phố với rất ít tổn thất sinh mạng. Cờ MTGPDT đã được kéo lên trên kỳ đài trước Hoàng cung. Phải đến ngày 24 tháng 2, nó mới bị hạ xuống, và thậm chí sau đó chiến sự vẫn diễn ra dữ dội ở một số khu vực của thành phố.
Chỉ khi viên gạch cuối cùng đã nát vụn và bụi đã lắng xuống mới là lúc tuyên bố chiến thắng nhưng đã chẳng còn gì. Cờ đã thay nhưng Huế thì bị tàn phá nặng nề. Người ta ước lượng có tới 3.000 thường dân đã chết, chưa có thống kê chính xác, và khoảng 60.000 cư dân Huế đã trở thành người tị nạn. Sài Gòn đã trả thù.
•••
KHI TÔI ĐẾN HUẾ, tôi bị giới hạn chỉ được tác nghiệp ở bờ Nam của sông Hương, nơi chiến sự yên ắng hơn. Cây cầu đã bị MTGPDT đánh sập trong những ngày đầu tiên của trận chiến mà sau đó đã kéo dài gần một tháng. Tôi đã tới bệnh viện. Nó từng một thời là khu phức hợp gồm 30 tòa nhà khá đẹp, rộng rãi, rợp bóng mát, nhưng nay đã bị tàn phá một nửa. Chỉ một khoa còn hoạt động, trong khi cả bệnh viện sẽ rất đông đúc nếu còn nguyên. Bom đã xẻ đôi mái nhà. Đạn rocket và súng không giật đã đục những cái lỗ lớn, đôi khi tới 10 feet (khoảng 3m), ở hai bên tòa nhà. Tất cả cửa kính bị vỡ vụn bởi những chấn động. Hầu hết mọi bức tường đều lỗ chỗ bởi những vết đạn to bằng đồng xu từ súng máy cỡ nòng 50. Ở khắp mọi nơi đều là đống đổ nát.
Tại sao bệnh viện lại bị đánh mạnh như vậy? Một bác sĩ người Canada đi cùng tôi bắt đầu hỏi những người trong khu vực, một thời từng là bệnh nhân, nhân viên hay người tị nạn đang sống trong đống đổ nát -- "Có bất kỳ bệnh nhân VC nào trong bệnh viện không?" Một người đàn ông nói không. Người khác nói một vài. Ước tính lớn nhất là sáu. Tuy nhiên, người phát ngôn quân đội Mỹ tuyên bố rằng bệnh viện là một một sở chỉ huy của VC.
Chúng tôi gặp một người đàn ông trẻ tuổi đang sống tại một trong số ít những tòa nhà không bị phá hủy. Anh là một sinh viên y khoa đã từng học ở đó. Anh ta sợ rời khỏi đó, vì nếu không phải quân nhân Việt Nam Cộng hòa (VNCH), anh có thể bị nhầm là VC. "Tôi nghĩ người Mỹ đã phá hủy quá nhiều chỉ vì vài VC," anh phiền muộn.
•••
NGÀY HÔM SAU, chúng tôi đã bị đánh thức để dự lễ giương cờ bởi một thủy quân lục chiến trẻ tuổi đang háo hức. Tỉnh trưởng, Đại tá Phan Văn Khoa, đã trở về từ nơi ẩn náu và đang lo ngại khi phải hạ lá cờ của MTGPDT. Ông muốn có một số phóng viên tại đó trong giây phút lịch sử. Thực tế là chúng tôi đã được đưa đi trên chiếc xe jeep của ông ấy.
Ông đã tập hợp được một nhóm người tị nạn để xem buổi lễ của mình, hát quốc ca khi kéo lá cờ lên. Trông họ đứng không vui, hoang mang, trong cơn mưa. Đại tá đã thực hiện một bài phát biểu rất dài trong khi cẩn thận yên vị phía sau một di tích phòng trường hợp có tay súng bắn tỉa qua sông, trong khi chiến sự vẫn tiếp diễn. Lá cờ được kéo lên lưng chừng và biến mất. Có người đã bắn rơi nó xuống.
SAU ĐÓ tôi đi về phía bắc của thành phố. Tôi đã dành cả ngày trong những đống đổ nát bao phủ một nửa diện tích sáu km vuông của ngôi thành. Chỉ ở góc Đông Bắc thì vẫn còn những tòa nhà nguyên vẹn. Đây là khu dân cư nghèo nhất. Dọc theo con sông trên đường phố chính, Trần Hưng Đạo, những cửa hàng đẹp trông hoang tàn. Bên trong bức tường thành, những ngôi nhà xinh xắn và những ngôi chùa nhỏ đầy màu sắc đã bị san bằng tới ngang tầm mắt. Khoảng 90% khu vực của thành phố bị tàn phá và có thể sẽ bị ủi đi.
Dọc theo bờ sông lính VNCH và lính thủy đánh bộ đang cướp phá các cửa hàng thời trang. Các cửa hàng rượu và máy ảnh là những nơi bị nặng nhất. Tại một nơi, những người lính mang theo cả một chiếc xe tải để giúp họ chở đi đồ cướp được. Quay lại bệnh viện tôi nhận thấy xe cứu thương đã bị lấy đi.
Trong khi xác người đang rữa ra trên mặt đất - tôi đếm được 14 trong khi mắt tôi không thể nhìn họ - lính thủy đánh bộ Mỹ đang liều lĩnh ngược xuôi trên phố trên những chiếc xe máy vớ được mà họ không chắc chắn về cách điều khiển chúng. Trong khu vực khác của thành phố, những xe 4 bánh không thân gắn máy, nhỏ hơn xe jeep, còn gọi là xe la (mules), chở những người tị nạn còn lại chạy trốn. Những người lính hớp bia La Rue hàng thùng mừng "giải phóng". Tại một điểm, tôi dò xét một cái xác và hỏi một thủy quân lục chiến rằng đó có phải một VC không. "Tất nhiên", anh ta trả lời, "Mọi xác chết đều là VC".
•••
"NHÀ CỦA TÔI ĐÃ BIẾN MẤT", một người lính Sài Gòn nói. Rất nhiều người lính VNCH đã chiến đấu trở về Huế chỉ để nhìn thấy nhà của mình đã bị phá hủy bởi súng và bom của Mỹ. Từ góc độ quân sự và chính trị, người Mỹ không còn lựa chọn nào khác. Cách thay thế cho việc phá hủy Huế, là để cho MTGPDT giữ nó. Họ (MTGPDT) không thể bị đói- họ đã mang đủ đồ ăn trong nhiều tháng. Họ đã đào sâu công sự. "Chúng tôi buộc phải phá hủy thành phố để cứu lấy nó", một viên sĩ quan đã nói trong một tuyên bố giờ đã thành nổi tiếng.
Khi việc giải phóng lên đến hàng tuần, các chỉ huy Mỹ đã tăng cường áp lực để giành lại thành phố. Họ đã quyết định làm bất cứ điều gì và điều đó dẫn đến hỏa lực khủng khiếp đã được sử dụng. Pháo hải quân cỡ lớn 8 inch (khoảng 200mm) và lựu pháo 155mm đã giáng xuống thành phố từ cách đó nhiều dặm. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng vỏ đạn văng khỏi nòng, nghe tiếng rít trên đầu, rồi im lặng, và sau đó đếm một, hai... mười giây trước khi vụ nổ chói tai vang xa cả dặm ở phía bên kia. Họ sử dụng súng cối và rocket, bom 750 pound (khoảng 340kg) và napalm. Lần đầu tiên trong thành phố, thủy quân lục chiến phải sử dụng Ontos, một chiếc xe bánh xích nhỏ với sáu nòng súng không giật 106mm. Bắn theo thứ tự, sáu nòng súng này có thể đánh sập tòa nhà 2 tầng.
•••
MỘT SINH VIÊN NÓI TIẾNG ANH từ Đại học Sài Gòn về Huế trong dịp Tết, nói nhiều sinh viên của Đại học Huế đã hỗ trợ MTGPDT. Nhưng "người Việt Nam không muốn Hồ cũng chẳng muốn Thiệu", Le Nu Buu nhấn mạnh. Anh cẩn thận nói thêm "Tôi biết nhiều sinh viên Mỹ cũng chống lại chiến tranh." Trinh Tien Khanh là sinh viên Đại học Huế. Nhà của anh đã bị phá hủy và anh chỉ còn bộ quần áo khi quay lại . Anh nói, "Một số khoa ở đây, về văn khoa và luật, có ý nghĩ tốt về VC. Họ và các sinh viên đã hỗ trợ (MTGPDT)." Anh nghĩ rằng việc phá huỷ Huế sẽ làm cho nhiều người hơn nữa quay sang phía MTGPDT.
Vo Lien, cũng là một sinh viên Huế, cho biết nhiều người đã chết vì đói trong cuộc tấn công. Anh tin rằng sinh viên và giảng viên Khoa Y cũng đã tham gia với MTGPDT.
Một người dân Huế cho biết: "Người Bắc Việt không đốt nhà và giết người, người Mỹ và quân lực VNCH đã làm như vậy. Rõ ràng rằng hỏa lực của Hoa Kỳ đã phá hủy thành phố. MTGPDT đã có thành phố và cẩn thận không để làm hư hại nó. Họ đã di tản các cư dân từ các khu vực mà người Mỹ có thể tấn công. Điều này giải thích cho số lượng thương vong tương đối thấp, khi so sánh với thiệt hại vật chất khủng khiếp.
Nguồn:
Báo The Michigan Daily
Thứ tư ngày 20/3/1968
-ST-

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 1)
Nguồn: https://www.facebook.com/112827646815271/posts/180897226674979/

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chúng ta thường nhầm tưởng rằng phép duy vật biện chứng của Các Mác và Ph. Ăngghen là sự kết hợp giữa thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc và phép biện chứng của Hêghen. Trên thực tế điều đó không đúng. Bản thân Các Mác đã phủ nhận điều này và trong lời nói đầu tác phẩm “Tư bản” thì ông đã bảo phép biện chứng duy vật hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen. Còn Phơriđơrích Ăngghen thì nhận định rằng phép biện chứng của Hêghen chính là một thiên tài nhưng đi lộn đầu trồng cây chuối.

Cũng như vậy, Các Mác đã phê phán thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc vì nó tách xã hội loài người và giới tự nhiên ra làm hai cực đối lập, tách biệt giữa quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, tách biệt giữa tồn tại, duy nhất và thống nhất. Có thể thâý việc phê phán thế giới quan duy vật siêu hình mạnh nhất là trong tác phẩm “chống Đuyrinh” của Ph. Ăngghen.

Vậy thì phép biện chứng duy vật là gì và tại sao nó khác hoàn toàn với cả thế giới quan duy vật Phơbắc lẫn phép biện chứng Hêghen ? Câu trả lời cụ thể đó là việc phát hiện ra phép biện chứng duy vật là toàn bộ quá trình phát triển tư tưởng Các Mác và Ph. Ăngghen khi hai ông đi từng bước trong quá trình nhận thức và trưởng thành về hệ tư tưởng mà chúng tôi sẽ trình bày thành nhiều kỳ cho bạn đọc dễ hiểu trong các phần dưới đây.

II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC: THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Để hiểu được phép duy vật biện chứng chúng ta cần hiểu được rằng tại sao Mác lại lựa chọn THẾ GIỚI QUAN duy vật và PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng. Nhưng trước hết chúng tôi xin mạn phép trình bày về hai khái niệm “thế giới quan” và “phương pháp luận”.

THẾ GIỚI QUAN là cách nhận thức thế giới của cá nhân hay xã hội loài người về giới tự nhiên, và thế giới quan duy vật là một mặt của thế giới quan triết học, nó hình thành ngay từ khi bắt đầu có triết học, tồn tại đối lập và thống nhất với thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy vật cho rằng giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức, thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người. Thế giới quan duy tâm cho rằng ý thức là cái có trước và ý thức sản sinh ra giới tự nhiên.

PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng là một trong hai phương pháp luận cơ bản của triết học. Phương pháp luận còn lại là siêu hình. Phương pháp luận dựa trên quá trình tư duy của con người và khác hoàn toàn với phương pháp nghiên cứu. Biện chứng là phương pháp luận xây dựng dựa trên nền tảng của sự vận động, tính thống nhất và tương tác giữa các sự vật và tính vô hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên. Còn siêu hình là là phương pháp luận dựa trên sự đứng yên, tính độc lập và tính hữu hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên.

Cả thế giới quan lẫn phương pháp luận đều được hình thành trước chủ nghĩa tư bản và không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.

III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC MÁC THỜI TRẺ

Các Mác và Ph. Ăngghen vào thời trẻ vẫn chưa đi theo phép duy vật biện chứng. Ban đầu cả hai ông là người duy tâm.

1. Nền tảng tư tưởng của Mác triết khi tiếp xúc với triết học.

Thời trẻ Các Mác là một trong những người ủng hộ phong trào tự do tư sản ở nước Phổ. Nguyên do là vì Các Mác chịu ảnh hưởng về tư tưởng từ bố đẻ và bố vợ của mình, hai cụ đều là những người đại diện cho giai cấp tư sản và đấu tranh chống chế độ vua chúa ở Phổ. Bố đẻ của Các Mác, cụ Hăngrích Mác, là một luật sư và ông đi theo tư tưởng triết học khai sáng của Pháp với tinh thần nhân đạo tư sản. Nền tảng của triết học khai sáng là tư tưởng tự do và phương pháp luận siêu hình, đặc biệt trong các vấn đề luật pháp. Điều này đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng triết học thời trẻ của Mác khi cụ Hăngrích định hướng cho Mác học luật.

Còn bố vợ của Mác, cụ Lútvích phôn Vétxphalen là một nhà quý tộc, cố vấn chính phủ và là người theo thuyết tự do tư sản. Cụ là người thứ hai ảnh hưởng đến nền tảng triết học của Mác, bản thân việc đi học của Mác ban đầu hướng tới việc trở thành một viên chức nhà nước để xây dựng chính sách pháp luật hơn là trở thành một nhà cách mạng. Cụ Vétxphalen cũng giúp Mác tìm hiểu về các vấn đề xã hội và con người, sự khác biệt về giàu nghèo giữa các giai cấp trong xã hội và truyền cho Mác tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng.

Chính vì vậy, trong bài luận văn tốt nghiệp trung học “Những suy nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề” của Các Mác đã thể hiện hai yếu tố rất rõ ràng. Thứ nhất: ông đề cập đến mối quan hệ xã hội giữa cá nhân và cộng đồng, khẳng định rằng cá nhân là một phần không thể tách rời khỏi cộng đồng. Đặc biệt việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân lại là kết quả và ảnh hưởng ngược lại đến các xu hướng xã hội.. Thứ hai: Mác đề cập đến tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng và nhân đạo kiểu Pháp, trong đó ông xây dựng một nhân sinh quan của cuộc đời mình dựa trên chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

2. Sự từ bỏ phương pháp luận siêu hình để đến với phương pháp luận biện chứng.

Không có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên trong thời gian học đại học, Các Mác đã từ bỏ phương pháp luận siêu hình. Dấu hiệu đầu tiên đó là Mác từ bỏ việc học ở đại học Bon mà chuyển đến đại học Béclin. Các kiến thức về luật học ở Bon không đáp ứng được với yêu cầu của Mác thời trẻ, đặc biệt là khi phong trào tự do tư sản đang phát triển mạnh mẽ ở nước Đức. Ông cảm thấy mất hứng thú với môn luật ở đây, nơi mà tư duy siêu hình đang thống trị.

Nhưng ngành luật ở Béclin cũng không đáp ứng được nhu cầu của Mác. Ông bỏ ngành luật và chuyển sang toán học cũng như khoa học tự nhiên, trong đó toán học là một trong những môn học đòi hỏi tính logic siêu hình rất rõ nét. Một thời gian sau Mác cũng từ bỏ ngành toán và bắt đầu thử sức với triết học, đặc biệt là triết học biện chứng của Hêghen. Sự khác biệt giữa đại học Béclin và đại học Bon đó là tại Béclin thì tư tưởng của nhà triết học Hêghen đã thống trị từ ông giảng dạy ở đây từ năm 1818 - 1831. Các môn đồ của Hêghen vẫn tiếp tục giảng dậy ở trường đại học Béclin trong nhiều chuyên ngành quan trọng.

Đến thời điểm này Mác vẫn là một nhà triết học duy tâm chịu ảnh hưởng của Căngtơ, Hêghen và chủ nghĩa khai sáng của Vônte. Mác tham gia “câu lạc bộ Tiến sĩ”, nơi tụ hội của một trường phái những người đi theo phép biện chứng Hêghen gọi là “phái Hêghen trẻ”. Đại diện nổi bật nhất của phái này là Brunô Bauơ. Đây cũng là bước chuyển cho thấy Mác từ bỏ phương pháp luận siêu hình và đến hẳn với phương pháp luận biện chứng. Chính vì vậy Mác đã đề cập đến vấn đề biện chứng ngay trong luận án tiến sĩ của mình với tiêu đề “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Democritus và triết học tự nhiên của Epicurus nói chung”. Bên cạnh đó Mác cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng về hệ thống nhà nước pháp quyền của trường phái Hêghen trong những năm tháng học tại trường đại học.

Có điều triết học duy tâm biện chứng của Hêghen mà cụ thể đó là phương pháp luận biện chứng của Hêghen lại hàm chứa những mâu thuẫn. Thứ nhất triết học Hêghen cho rằng mọi thứ đều là sự vận động của một “ý niệm tuyệt đối”, và hình thái cao nhất của “ý niệm tuyệt đối” lại là nhà nước pháp quyền Phổ. Tuy nhiên nói vậy phải chăng khi đạt được đến nhà nước pháp quyền Phổ thì mọi sự vận động đều không còn vận động nữa ?

Thứ hai nếu “ý niệm tuyệt đối” là sự quyết định mọi quy luật vận động thì vai trò của loài người trong quá trình nhận thức như thế nào. Nếu việc nhận thức giới tự nhiên chỉ là việc nhận thức “ý niệm tuyệt đối” vậy các ngành khoa học lúc đó có cần vận động nữa không ?

Thứ ba, về bản chất “ý niệm tuyệt đối” thật ra không khác gì với các khái niệm như “chúa trời”, “thượng đế”, vậy xét đến cùng triết học của Hêghen chỉ là một bản sao của kinh Thánh với phép biện chứng vận động trong một khuôn khổ được “ý niệm tuyệt đối” cho phép, như vậy các quy luật vận động của giới tự nhiên là do “ý niệm tuyệt đối” quyết định và người nào đó nhận thức được “ý niệm tuyệt đối” tức anh ta sẽ không còn chịu ảnh hưởng của  quy luật tự nhiên nữa.

Đây chính là những mâu thuẫn buộc Mác không ngừng vận động, phê phán chính bản thân mình để từ bỏ triết học duy tâm của Hêghen. Đối với Mác việc tiếp thu phép biện chứng của Hegel đồng thời cũng tiếp thu luôn cả tinh thần phê phán của phép biện chứng và tự phê phán đối với bản thân.
NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 2)

IV. MẪU THUẪN VỀ HỆ TƯ TƯỞNG VÀ LOGIC TRONG TRIẾT HỌC DUY TÂM BIỆN CHỨNG CỦA HÊGHEN

Khi Mác việc tiếp thu phép biện chứng của Hêghen đồng thời Mác cũng tiếp thu luôn cả tinh thần phê phán của phép biện chứng và tự phê phán đối với bản thân. Nhờ đó Mác đã tìm ra những điểm mâu thuẫn trong phép biện chứng của Hêghen.

Về cơ bản, Hêghen coi mọi sự vận động của chế độ xã hội hay lịch sử loại người là quá trình vận động liên tục của  “tư tưởng tuyệt đối”. Thế giới vật chất chỉ được xem như một loại phản ánh của “tư tưởng tuyệt đối” này. Sự vận động và biến đối thường xuyên của “tư tưởng tuyệt đối” gọi là “biện chứng” và sự vận động này kết thúc khi tư tưởng đạt đến mức tự nhận thức. Tư tưởng của mỗi con người cũng chỉ là một biểu hiện của một “tư tưởng tuyệt đối”; và vào thời đại của Hêghen, tư tưởng cá nhân đã nhận thức được mức tự nhận thức được tư tưởng tuyệt đối. Hình thái cao nhất của tư tưởng tuyệt đối chính là hình thái nhà nước pháp quyền Phổ mà Hêghen đề xuất.

Tuy nhiên có thể thấy “tư tưởng tuyệt đối” thật ra chính là một hình thái khác của “Chúa trời”, và việc tự nhận thức tư tưởng bản thân với “tư tưởng tuyệt đối” cũng có nghĩa là coi tư tưởng của mình nhận thức ra mình là Chúa trời, ở điểm này Hêghen lại là một người duy tâm chủ quan. Đây là tính siêu hình trong phép biện chứng của Hêghen đồng thời là vật cản ngăn không cho phép biện chứng phát triển tiếp tục cùng với sự vận động của xã hội loài người.

Đồng thời, khi nói rằng hình thái cao nhất của “tư tưởng tuyệt đối” là nhà nước pháp quyền Phổ hay là thời đại mà Hêghen đang sinh sống, vậy thì tư tưởng tuyệt đối từ đó về sau không còn vận động và biến đổi nữa, tức là mọi nhận thức phía sau thời kỳ của Hêghen đều là sai lầm và mọi môn khoa học đều không còn cần thiết và phát triển nữa. Rõ ràng điều này là vô lý.

Ngoài ra, việc nhận thức “tư tưởng tuyệt đối” và tư tưởng cá nhân hàm ý nói rằng chỉ có những môn đồ của Hêghen tôn vinh phép biện chứng mới nhận thức được; những người này sẽ trở thành những tinh hoa dẫn dắt xã hội loại người phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Như vậy lịch sử xã hội loại người thực chất được dẫn dắt bởi tư tưởng của những người từ thuở sơ khai luôn đi tìm về với “tư tưởng tuyệt đối” giống như các con chiên ngoan đạo tìm về với Chúa trời. Điều đó có nghĩa là lịch sử xã hội loài người chẳng qua chỉ là quá trình tìm kiếm “tư tưởng tuyệt đối” và do “tư tưởng tuyệt đối” tạo nên lịch sử xã hội loài người. Các hoạt động sản xuất, quản lý xã hội, nghiên cứu khoa học v…v… hoá ra đều là vô nghĩa. Điều này cũng hoàn toàn vô lý nốt.

Ba điều trên là những điểm mâu thuẫn mà Các Mác đã nhìn thấy trong triết học Hêghen. Rõ ràng nếu hình thái cao nhất của “tư tưởng tuyệt đối” là Nhà nước pháp quyền Phổ là thì tại sao dưới cái nhà nước Phổ đó người ta vẫn đang phải đấu tranh cho những quyền tiến bộ như quyền tự do kinh doanh, quyền tự do đi lại và kết hôn giống như những gì bố đẻ và bố vợ của Mác vẫn đang đấu tranh cho người dân Phổ ?

Các Mác luôn luôn đặt ra một câu hỏi là tại sao xã hội với đa số người lao động, những người tạo ra của cải vật chất cho xã hội lại luôn có cuộc sống bần cùng nghèo khổ và bị bóc lột, và ngay từ đầu tư tưởng và hành động của Các Mác luôn hướng tới bênh vực cho những người lao động bị bóc lột và bức hiếp. Điều này đã được thể hiện rõ ràng trong các bài báo đầu tay của Mác tại tờ Tạp chí sông Ranh như: “Bàn về đạo luật cấm nhặt củi rừng” - “Dự thảo về đạo luật li hôn”.

Từ đó, Các Mác bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và Mác bắt đầu viết tác phẩm: “Phê phán triết học pháp quyền Hêghen” như là tác phẩm đầu tay để phê phán cái gọi là hình thái cao nhất của Tư tưởng tuyệt đối, tức là nhà nước pháp quyền Phổ. Mác đã phê phán các nguyên lý của triết học pháp quyền và trong lời nói đầu của tác phẩm, ông đã chỉ ra rằng sự phê phán tôn giáo của triết học pháp quyền Hêghen, đặc biệt là đối với những bạn bè cũ trong phái “Hêghen trẻ”, thực chất chỉ là một sự phê phán hời hợt, phi thực tế trong một xã hội khổ đau và không có ý nghĩa gì cả. Sự phê phán cao nhất chính là phê phán triết học mà cụ thể là triết học pháp quyền. Như vậy ở tác phẩm này Mác đã chỉ ra được mâu thuẫn đầu tiên trong phép biện chứng của Hêghen đó là cưỡng ép cho mọi thứ ngừng vận động khi đạt đến Nhà nước pháp quyền.

Tác phẩm thứ hai đánh dấu sự từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen đó là tác phẩm Gia đình Thần thánh (hay Phê phán sự phê phán có tính phê phán) được Mác và Ph. Ăngghen cùng viết năm 1844, ở tác phẩm này Mác và Ph. Ăngghen đã đưa ra một luận điểm cực kỳ cơ bản của lịch sử mang tính duy vật: đó là chính quần chúng nhân dân và nhân dân lao động mới là những người tạo nên lịch sử chứ không phải là những tầng lớp tinh hoa hay cá nhân kiệt xuất tạo nên lịch sử. Tác phẩm này đánh thẳng vào tư tưởng của những người theo phái Hêghen trẻ khi tự coi mình là những người dẫn dắt xã hội và quần chúng nhân dân lao động chỉ là thành phần đáng thương hại của lịch sử xã hội loài người. Bằng cách này Mác và Ph. Ăngghen đã thêm một bước nữa phủ định chủ nghĩa duy tâm của Hêghen theo hướng phủ nhận "tư tưởng tuyệt đối" dẫn dắt lịch sử.

Tác phẩm thứ ba đánh dấu sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm Hêghen là tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, cũng do Mác và Ph. Ăngghen cùng viết. Hai ông đã chỉ ra những sản phẩm của tư tưởng con người, từ triết học, văn hóa, pháp quyền v…v… đều là những sản phẩm không có lịch sử và không tự vận động, sự thay đổi của những thứ này thực chất gắn liền với đời sống lao động sản xuất vật chất của xã hội loài người hay chính là quá trình trao đổi chất giữa con người và giới tự nhiên và nó chỉ là hình ảnh phản chiếu của quá trình lao động sản xuất vật chất của lịch sử loài người. Bằng tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ph. Ăngghen đã chấm dứt hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, đồng thời giải quyết triệt để các mâu thuẫn về tư tưởng và logic trong phép biện chứng của Hêghen với 3 câu trả lời như sau:

- Thứ nhất: Nhà nước pháp quyền Phổ không phải là hình thái cuối cùng trong lịch sử, xã hội loài người luôn vận động sẽ phủ nhận nhà nước Phổ và thay thế nó bằng thứ khác. Quá trình vận động và biện chứng không dừng lại mà vẫn tiếp tục diễn ra theo chuỗi thời gian và không gian vô tận; chừng nào còn sự vận động thì vẫn còn thời gian và không gian. Điều này cũng phá vỡ tính duy tâm thần bí và tính siêu hình cản trở sự phát triển của phép biện chứng Hêghen.

- Thứ hai: Chính quần chúng nhân dân mới là người tạo nên lịch sử phát triển của xã hội loài người chứ không phải là tầng lớp tinh hoa hay cá nhân kiệt xuất lãnh đạo xã hội. Bí mật duy tâm của Hêghen thực chất chỉ là cái vỏ bọc bảo vệ địa vị giai cấp của Hêghen và những người có đặc quyền trong nhà nước pháp quyền Phổ.

- Thứ ba: Lịch sử của xã hội loài người không phải là quá trình vận động của Tư tưởng tuyệt đối như Hêghen nói, trái lại nó là quá trình vận động của việc sản xuất vật chất của xã hội loài người hay quá trình trao đổi chất giữa con người và giới tự nhiên. Và tư tưởng tuyệt đối hay tư tưởng cá nhân đều chỉ là hình ảnh phản ánh của quá trình sản xuất vật chất của loài người thôi. Vấn đề của Hêghen là ông suy diễn ngược quan hệ giữa cái vận động thật và cái hình ảnh phán ánh. Chính vì vậy Hêghen không tìm ra được hình thái phát triển cao hơn của Nhà nước pháp quyền Phổ bởi tư tưởng của Hêghen là sản phẩm của lịch sử chứ không phải lịch sử, nó chỉ phản ánh đúng xã hội thời kỳ mà ông đang sống và ông ngộ nhận rằng đó là hình thái cao nhất.

Đến đây Mác và Ph. Ăngghen đã kết luận Hêghen là một thiên tài đi lộn đầu, phép biện chứng của Hêghen là một thành quả thiên tài nhưng nó bị giới hạn lại bởi chính tính duy tâm thần bí. Kết quả của phép biện chứng duy tâm cuối cùng lại trở thành phép siêu hình duy tâm và đó là lý do Hêghen được mô tả là một thiên tài nhưng đi lộn ngược đầu.
Status này có nội dung đăng tải kỳ 3 và cũng là kỳ cuối của loạt bài về nguồn gốc và sự hình thành của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật. Một lần nữa, Ban biên tập của Đồng Minh Những Người Cộng Sản rất cảm ơn sự đóng góp nhiệt tình của các tác giả cũng như luôn hoan nghênh các thảo luận và đóng góp mang tính xây dựng của bạn đọc.

Bạn đọc có thể xem các kỳ 1 và kỳ 2 của loạt bài trong các đường link dưới đây.

Kỳ 1: https://www.facebook.com/dongminhnhungnguoicongsan/photos/a.118019156296120/180895553341813/
Kỳ 2: https://www.facebook.com/dongminhnhungnguoicongsan/photos/a.118019156296120/181578533273515/

==o0o==

NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 3)

V. SỰ HOÀN THIỆN CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ PHÁT TRIỂN LÊN THÀNH DUY VẬT LỊCH SỬ

Ở phần cuối cùng này, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu vì sao và làm thế nào Mác và Ph. Ăngghen đã hoàn thiện được phép duy vật biện chứng và phát triển thành chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trước hết cần phải nói ngay rằng, chủ nghĩa duy vật biện chứng KHÔNG PHẢI là "sản phẩm chủ quan" của Các Mác và Ph. Ăngghen như một số kẻ xấu tính hay xuyên tạc, nó là quy luật vận động khách quan của thế giới được Các Mác và Ph. Ăngghen khám phá ra. Giống như định luật vạn vật hấp dẫn không phải là “chủ quan của Niutơn”, nó là quy luật khách quan của vũ trụ còn ông Niutơn là người tìm thấy nó. Điều này sẽ được giải thích ở phần cuối bài viết. Cả cuộc đời Mác có hai lý thuyết được coi là phát hiện của ông với tư cách là một nhà khoa học, đó là: “Học thuyết giá trị thặng dư” và “Chủ nghĩa duy vật lịch sử”.

Trước hết chúng ta sẽ đọc qua một số đoạn trích sau, đầu tiên là lời tựa năm 1885 của Ăngghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”

“Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử. … Đúng vào giữa quá trình lột xác ấy, tôi đã phải nghiên cứu cái gọi là triết học tự nhiên của ông Đuy-rinh. Vì vậy, nếu như trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, lý thuyết, đôi khi tôi không tìm được thuật ngữ chính xác và nói chung đã diễn đạt còn khá nặng nề, thì đó là điều hoàn toàn tự nhiên. Nhưng mặt khác, việc ý thức được rằng mình chưa nắm vững vật liệu đã khiến tôi thận trọng; sẽ không ai có thể vạch ra được những sự lầm lẫn thực sự của tôi về những sự kiện đã biết hồi đó, cũng như những điều sai lệch trong việc trình bày những lý thuyết đã được công nhận hồi đó. Về mặt này, chỉ có một nhà toán học lớn chưa được thừa nhận viết thư cho Mác, phàn nàn rằng tôi đã dám táo gan xúc phạm đến danh dự của căn bậc hai của -1.

Lẽ dĩ nhiên, khi tôi tổng kết những thành tựu của toán học và khoa học tự nhiên như vậy thì vấn đề cũng là để thông qua những cái riêng, thấy rõ thêm cái chân lý mà nói chung tôi đã không nghi ngờ chút nào cả, cụ thể là: cũng những quy luật biện chứng ấy của sự vận động, chi phối tính ngẫu nhiên bề ngoài của sự kiện ngay cả trong lịch sử, đang mở đường cho mình trong giới tự nhiên thông qua sự hỗn độn của vô số biến đổi; cũng những quy luật ấy, những quy luật như sợi chỉ đỏ xuyên qua cả lịch sử phát triển của tư duy loài người, đang dần dần đi vào ý thức của con người tư duy: đó là những quy luật mà Hêghen lần đầu tiên đã phát triển một cách bao quát, nhưng dưới một hình thức thần bí, và một trong những nguyện vọng của chúng tôi là tách những quy luật đó ra khỏi cái vỏ thân bí ấy và trình bày chúng một cách rõ ràng với tất cả tính đơn giản và tính phổ biến của chúng. Lẽ dĩ nhiên là nề triết học tự nhiên cũ - dầu có chứa đựng nhiều điều tốt thật sự và nhiều mầm mống có sức đâm chồi nảy lộc như thế nào chăng nữa[ - vẫn không thể thoả mãn được chúng ta. Như đã được trình bày tường tận hơn trong tác phẩm này, khuyết điểm của nền triết học tự nhiên ấy, nhất là dưới hình thức của Hêghen, là ở chỗ không thừa nhận sự phát triển trong thời gian, "nối tiếp nhau" của thế giới tự nhiên, mà chỉ thừa nhận sự tồn tại của "cái nọ bên cạnh cái kia". Sở dĩ như thế một mặt là do bản thân hệ thống của Hegel chỉ thừa nhận có sự phát triển lịch sử của "tinh thần", nhưng mặt khác cũng là do tình trạng chung của khoa học tự nhiên thời ấy. Như vậy là trong trường hợp này, Hegel đã thụt lùi lại xa đằng sau Kant là người, với thuyết tinh vân của mình, đã tuyên bố sự phát sinh của hệ thống mặt trời, và với việc phát hiện ra tác dụng kìm hãm của thuỷ triều đối với sự quay của trái đất, cũng đã tuyên bố sự tiêu vong của hệ thống ấy[7]. Sau cùng, vấn đề đối với tôi không thể là đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên.

….. Tuy nhiên, cũng có thể là tiến bộ của khoa học tự nhiên lý thuyết sẽ làm cho đại bộ phận hoặc toàn bộ công trình của tôi trở thành thừa, bởi vì chỉ một sự cần thiết phải sắp xếp lại những phát hiện thuần tuý có tính chất kinh nghiệm, đã chất đống lại rất nhiều, cũng buộc nhà kinh nghiệm chủ nghĩa ngoan cố nhất phải ngày càng nhận thức được tính chất biện chứng của các quá trình tự nhiên. Những sự đối lập cứng nhắc cũ, những ranh giới dứt khoát và không thể vượt qua được ngày càng biến mất. Từ khi biến được bản thân những chất khí "thật" cuối cùng thành chất lỏng, trong đó hình thức giọt và hình thức khí là không phân biệt, thì những trạng thái kết tụ đã mất hết mọi tàn dư cuối cùng của tính tuyệt đối trước kia của chúng. …. Nhận thức cho rừng trong giới tự nhiên, cố nhiên là có những sự đối lập và khác biệt ấy, nhưng chỉ có với một ý nghĩa tương đối mà thôi, rằng trái lại, tính bất động tưởng tượng và giá trị tuyệt đối của chúng là do sự suy nghĩ của chúng ta đưa vào giới tự nhiên mà thôi - nhận thức đó là thực chất quan niệm biện chứng về giới tự nhiên. Người ta có thể đạt đến quan niệm biện chứng do đó những sự kiện thực tế đang tích luỹ lại của khoa học tự nhiên bắt buộc; nhưng người ta có thể đạt tới nó một cách dễ dàng hơn nếu đưa nhận thức về những quy luật của tư duy biện chứng vào việc tìm hiểu tính chất biện chứng của những sự kiện ấy. Dù sao, khoa học tự nhiên cũng đã tiến xa đến mức nó không thể tránh được sự tổng hợp biện chứng được. Nhưng nó sẽ thực hiện được sự tổng hợp ấy một cách dễ dàng hơn nếu nó không quên rằng kết quả trong đó những kinh nghiệm của nó được khái quát, là những khái niệm; rằng nghệ thuật vận dụng những khái niệm không phải bẩn sinh mà có, cũng không phải là do ý thức bình thường hàng ngày đem lại, mà đòi hỏi một tư duy thực sự, tư duy này có một lịch sử kinh nghiệm lâu dài, cũng lâu dài như lịch sử nghiên cứu hoa học tự nhiên có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa. Chỉ có khi nào khoa học tự nhiên học tập tiếp thu được những kết quả của hai nghìn năm trăm năm phát triển của triết học thì nó mới có thể, một mặt, thoát khỏi mọi thứ triết học tự nhiên đứng tách riêng, đứng ngoài và đứng trên nó, và mặt khác, thoát khỏi cái phương pháp tư duy hạn chế của chính nó, do chủ nghĩa kinh nghiệm Anh để lại.”

Tiếp theo là một đoạn trích trong tác phẩm “Biện chứng tự nhiên” mà Ăngghen đã tổng kết như sau:

“Sau khi mà một mặt, sự phản ứng chống lại "triết học tự nhiên" - sự phản ứng dựa phần lớn vào điểm xuất phát sai lầm ấy và sự sa đoạ không cứu vãn nổi của phái Hê-ghen Béc-lin - đã hết sức điên cuồng và rốt cuộc đã biến thành những lời chửi rủa; sau khi mà mặt khác, chủ nghĩa siêu hình chiết trung thông thường đã làm cho khoa học tự nhiên bị chặn đứng lại một cách tuyệt vọng trong những yêu cầu về lý luận của nó, - thì chắc hẳn là trước mắt các nhà khoa học tự nhiên, ta lại có thể nhắc đến tên Hê-ghen mà không gây ra cái bệnh sài giật mà ông Đuy-rinh mắc phải một cách rất đáng buồn cười.

Trước hết, cần phải nhận rằng đây hoàn toàn không phải là bênh vực quan điểm xuất phát của Hê-ghen mà theo đó tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm. Điều ấy bị Phoi-ơ-bắc vứt bỏ rồi. Tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào, trong lĩnh vực tự nhiên cũng như trong lĩnh vực lịch sử phải xuất phát từ những sự kiện đã có, do đó trong khoa học tự nhiên, phải xuất phát từ những hình thái hiện thực khác nhau và những hình thái vận động khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học tự nhiên lý thuyết, chúng ta không thể cấu tạo ra những mối liên hệ để ghép chúng vào sự kiện, mà phải từ các sự kiện đó phát hiện ra mối liên hệ ấy và một khi đã phát hiện ra các mối liên hệ ấy rồi thì phải hết sức chứng minh những mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm.

Cũng không thể nói là phải duy trì cái nội dung giáo điều của hệ thống Hê-ghen, như cái phái Hê-ghen già và trẻ ở Béc-lin đã hô hào. Điểm xuất phát duy tâm đó sụp đổ thì cái hệ thống xây dựng trên điểm xuất phát ấy, do đó cả triết học tự nhiên của Hê-ghen nói riêng cũng sụp đổ theo. Nhưng cũng cần phải nhắc lại rằng, cuộc tranh luận của khoa học tự nhiên chống lại Hê-ghen, trong chừng mực mà nói chung nó hiểu Hê-ghen một cách đúng đắn, thì chỉ nhằm chống lại hai điểm: điểm xuất phát duy tâm và việc dựng nên một hệ thống một cách tuỳ tiện và trái với các sự kiện.

Sau khi loại bỏ tất cả cái đó ra, thì còn lại phép biện chứng của Hê-ghen. Khác với "đám hậu sinh càu nhàu, kiêu căng và tầm thường đang đóng vai trò lãnh đạo trong giới có học thức ở Đức", công lao của Mác là ở chỗ ông là người đầu tiên đã phục hồi lại phương pháp biện chứng đã bị bỏ quên, nêu rõ những mối quan hệ và sự khác nhau của phương pháp đó với phép biện chứng của Hê-ghen, và đồng thời, trong bộ "Tư bản", ông đã áp dụng phương pháp đó vào những sự kiện của một khoa học thực nghiệm xác định, khoa kinh tế chính trị. Ông đã thành công đến mức là ngày nay, nếu phái kinh tế học hiện đại ở nước Đức mà hơn được phái mậu dịch tự do tầm thường thì cũng là nhờ đã mượn cớ phê phán Mác để sao chép lại Mác (thường thường lại sao khá sai).

Trong phép biện chứng cũng như trong tất cả bộ môn khác của hệ thống Hê-ghen, cũng có một sự đảo ngược của các mối quan hệ hiện thực. Nhưng, như Mác đã vạch rõ: "Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hê-ghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hê-ghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hê-ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó.” (Bài tựa cũ trong cuốn chống Duyring về Phép Biện chứng dùng làm bài tựa trong tác phẩm Biện Chứng của Tự Nhiên)

Từ hai lời dẫn trong các tác phẩm trên chúng ta có thể đi đến ba kết luận sau:

Thứ nhất là, khoa học tự nhiên, nền tảng của triết học Phơbắc, ở bị giới hạn bởi phép siêu hình về mặt lý luận. Người ta thường nghiên cứu khoa học tự nhiên một cách nhỏ lẻ, rời rạc mà không thấy được tình vận động của khoa học tự nhiên, điều này làm cho khoa học tự nhiên bị thống trị bởi chủ nghĩa kinh nghiệm Anh và triết học duy vật thô sơ tầm thường.

Thứ hai là, Hêghen là người đầu tiên trình bày phép biện chứng dưới dạng lý thuyết hóa. Tuy nhiên Hêghen không nhìn thấy sự vận động của thế giới vật chất với ý thức chính là hình ảnh phản ánh sự vận động của vật chất. Hêghen đã nhìn nhận ngược, cho rằng ý thức là vận động và thế giới vật chất là phản ánh sự vận động của ý thức.

Thứ ba là, các hệ thống triết học cũ tách biệt giữa ý thức và vật chất, giữa tinh thần và tồn tại với tư cách là hai mặt đối lập và phủ định lẫn nhau nhưng không nhìn ra được mối quan hệ thống nhất giữa ý thức và vật chất cũng như sự liên kết không thể tách rời được. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm của triết học cũ thật ra chỉ là sản phẩm của ý thức thể hiện sự vận động của lịch sử. Trong đó sự phủ định lẫn nhau của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm chính là quá trình phủ định lẫn nhau của sự vận động thế giới vật chất được trình bày qua ý thức của con người.

Vì vậy cuối cùng Ăngghen đã khẳng định rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là sản phẩm ý thức của con người, đây là điểm mà Mác và Ph. Ăngghen đã gián tiếp phủ định lại Hêghen và Phơbắc. Ngược lại, phép biện chứng duy vật chính là quá trình vận động trực tiếp của thế giới vật chất. Việc áp dụng phép duy vật biện chứng trong khoa học thực chất chỉ là dùng ý thức để nhìn nhận thế giới vật chất dựa trên sự vận động của phép biện chứng. Vì thế phép biện chứng duy vật mà Mác và Ph. Ăngghen phát hiện ra là một sản phẩm của giới tự nhiên hay nói chính xác chính là sự vận động có tình phổ biến, phát triển, liên tục, không ngừng của thế giới vật chất và nó độc lập với ý thức, thậm chí tác động ngược lại quyết định ý thức. Phép biện chứng duy vật KHÔNG PHẢI là “sản phẩm chủ quan” của Mác, cũng như định luận vạn vật hấp dẫn không phải là “chủ quan” của Niutơn, hay thuyết tiến hoá và nguyên lý di truyền học không phải là “chủ quan” của Đácuyn, Menđen hay Móócgăng hay là “chủ quan” của các nhà khoa học nghiên cứu về di truyền tiến hoá.

Từ đó Mác và Ph. Ăngghen dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tìm ra sự vận động của xã hội loài người dựa trên quá trình phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất (bao gồm: sự tương tác của con người với thế giới vật chất là LLSX và sự tương tác giữa con người với nhau là QHSX). Đó chính là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, Mác áp dụng phép duy vật biện chứng vào trong cuốn Tư Bản Luận để chỉ ra chủ nghĩa tư bản cũng chỉ là một trong các hình thái trong vận động xã hội loài người, chủ nghĩa tư bản chắc chắn sẽ bị phủ định và thay thế bởi vì nó không thể vượt ra ngoài quy luật duy vật lịch sử và sự vận động của phép duy vật biện chứng. Tất nhiên là các học giả tư sản và các nhà tư bản không thích thú gì mấy với sự thật này và luôn tìm mọi cách để nguỵ biện và xuyên tạc.

Cuối cùng đến đây triết học duy vật biện chứng không còn là triết học nữa, trái lại, chính triết học mới lần đầu tiên tìm đến được sự vận động của thế giới vật chất và đang phản ánh lại dưới dạng triết học này hay triết học khác. Và khi thế giới vật chất thay đổi theo đúng phép duy vật biện chứng thì triết học với tư cách là cái phản ánh cũng phải thay đổi theo, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội với vai trò tương tự như vậy cũng sẽ thay đổi như vậy.

Cuối cùng như Lênin đã khẳng định, con người ta không thể nhận thức chân lý tuyệt đối mà chỉ tìm thấy dấu vết của nó qua các chân lý tương đối, nhận thức tiệm cận với chân lý tuyệt đối, giống như một bức ảnh có thể chụp ảnh chính xác giới tự nhiên nhưng vẫn bị giới hạn bởi cái viền ảnh (tức giới hạn bởi không gian và thời gian). Mác và Ph. Ăngghen đã trình bày phép biện chứng duy vật với tư cách tổng hợp những gì chung nhất và chứng minh sự vận động biện chứng duy vật của giới tự nhiên trong thời đại của hai ông nhưng đó không phải là tất cả phép biện chứng duy vật bởi sự vận động là không ngừng và con người ta các thế hệ sau sẽ nhận thức không ngừng phép biện chứng duy vật thông qua các sự vận động của thế giới vật chất bởi những giới hạn của lịch sử trong từng thời kỳ.

Đến đây Mác và Ph. Ăngghen cũng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ mà người ta cho triết học là "khoa học nhận thức được toàn bộ thế giới", hay triết học là "khoa học của mọi khoa học". Với tư cách là sản phẩm của ý thức, triết học không thể làm được một việc bất khả thi như vậy. Và điều này đúng khi khoa học vẫn luôn không ngừng phát triển và thay đổi triết học. Các quan điểm cho rằng triết học là “khoa học tối cao nhận thức thế giới” (Hêghen) hay triết học là “khoa học của mọi khoa học” (Phơbắc) đã sụp đổ. Ăngghen đã phân tích vấn đề này trong một tác phẩm cuối đời của mình là “Lútvích Phơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. (Ludwig Feuerbach and the End of Classical German Philosophy)

Người viết hy vọng rằng qua bài viết nhỏ này, bạn đọc có thể nhìn thấy được rằng, những tác phẩm mà Mác và Ph. Ăngghen viết theo thời gian chính là sự vận động, hình thành và trưởng thành tư tưởng của hai ông cùng với sự vận động của bối cảnh lịch sử hai người. Đồng thời, trong khi chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phơbắc và chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hêghen đều là sản phẩm của ý thức và sản phẩm của lịch sử, thì chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất chính là sự vận động khách quan của thế giới vật chất, được Mác và Ph. Ăngghen tìm ra và trình bày lại dưới ngôn ngữ dễ hiểu, sinh động để cho mọi người đọc có thể quan sát và cảm nhận lại. Chủ nghĩa duy vật biện chứng KHÔNG phải là sản phẩm của lịch sử mà trái lại nó tạo nên lịch sử thông qua sự vận động.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

ĐÔI ĐIỀU VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP HAY CÒN GỌI LÀ CÁC NHÀ KỸ TRỊ ĐÃ TƯ DUY LỘN NGƯỢC VỀ LỊCH SỬ NHƯ THẾ NÀO

Trong bài viết trước tôi có ghi rằng cách mạng công nghiệp không khởi phát ở các nước Đông Âu hay các nước phương Đông, nơi có các phát kiến quan trọng về kỹ thuật ví dụ như thuật luyện thép và thuốc súng. Nó cũng không khởi phát trong các thành thị công thương sầm uất hay các đế quốc thương mại ở Trung và Nam Âu. Cách mạng công nghiệp khởi phát trong nước Anh, một quốc gia có nền công thương không mấy nổi bật, và nó cũng khởi phát trong ngành bông vải còn non trẻ và phân tán chứ không phải trong các ngành công nghiệp trù phú và lâu đời ở Anh như ngành len dạ. Điều kỳ quặc này đã khiến một số bạn đọc, ví dụ như trong hình đính kèm, cảm thấy khó hiểu và đề nghị cần phải giải thích rõ ràng. Vì vậy bài viết này sẽ có mục tiêu làm rõ các yếu tố giúp cho nước Anh có thể thực hiện được cuộc cách mạng công nghiệp vào thời cận đại.

Ý THỨ NHẤT: Phát minh ra máy hơi nước không phải là cách mạng công nghiệp

Trước hết cần phải làm rõ. Cách mạng công nghiệp: ĐÓ LÀ SỰ NHẢY VỌT TỪ LAO ĐỘNG THỦ CÔNG SANG LAO ĐỘNG BẰNG MÁY MÓC. Cách mạng công nghiệp KHÔNG phải là đúc súng, luyện thép, phát minh ra máy móc. Bản thân việc phát minh ra cách luyện thép hay một cái máy không tạo ra cách mạng công nghiệp, mặc dù chúng là tiền đề khoa học của cách mạng công nghiệp hoặc là một hoạt động trong cách mạng công nghiệp. Trong chương 15 của bộ Tư bản, https://www.marxists.org/archive/marx/works/1867-c1/ch15.tm Các Mác đã nói rất rõ ràng, nhiều loại máy móc đã tồn tại thời kỳ tiền công nghiệp, nhưng việc chế ra chúng không tạo ra cách mạng trong sản xuất.

Máy hơi nước đã được Hêrông làm ra từ thời cổ để đóng mở các đền thờ ở La Mã. Tuy nhiên cách mạng công nghiệp không xảy ra ở La Mã, người La Mã không chạy xe công nông hay là làm việc trong nhà máy mà vẫn canh tác thủ công bằng các công cụ thô sơ lạc hậu. Cách mạng luyện thép và chế súng ở các nước phương Đông không thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc, nền sản xuất căn bản của các nước này vẫn là nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp xoay quanh các hộ sản xuất cá thể, phân tán, với lao động thủ công là chủ đạo và người lao động gắn chặt với tư liệu sản xuất.

Vấn đề là chúng ta hay tư duy ngược vấn đề một cách duy tâm, kiểu như một học giả hay siêu nhân chế ra một cái máy thì lập tức phường hội thủ công biến thành nhà máy xí nghiệp, trang trại phong kiến biến thành đồn điền công nghiệp. Sự thật diễn ra ngược lại, sự thay đổi quan hệ sản xuất đã tạo ra nhu cầu áp dụng máy móc và cách mạng công nghiệp; máy hơi nước, máy điện, máy dệt, lò Mác-tanh… đều đòi hỏi tiên đề là chế độ công nhân làm thuê trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và đều được làm ra để phục vụ cho chế độ đấy. Đem cái máy của Giêm Oát hay Têxưla về thời cổ đại nó chỉ là món đồ chơi không hơn không kém. Sự tồn tại máy hơi nước không tạo ra cách mạng công nghiệp, mà thay đổi trong hoạt động sản xuất đã đặt ra nhu cầu chế ra một kiểu máy hơi nước dùng vào sản xuất.

Ý THỨ HAI: Xuất phát điểm của cách mạng công nghiệp Anh là công trường thủ công tư bản chủ nghĩa

Một trong các điều kiện để áp dụng máy móc thay thế cho con người đó là thao tác lao động phải bị giản hóa thành những động tác rất đơn điệu, lặp lại. Một cái máy tinh vi hiện nay chưa chắc thực hiện nổi chuỗi động tác phức tạp đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo và trí óc của anh thợ giày – trừ phi nó là Đôrêmon – nhưng nó có thể làm các động tác đơn giản với tốc độ và sức lực gấp nhiều lần. Cái máy tính không thể ngồi giải định lý Phécma – trừ phi nó là Đôrêmon – nhưng nó có thể cộng trừ nhân chia nhanh gấp nghìn lần một nhà toán học. Thao tác đơn điệu là một đặc điểm của mô hình sản xuất hiện đại, bắt đầu từ công trường thủ công, sản xuất theo dây chuyền với quy trình được chia nhỏ thành nhiều công đoạn để mỗi công đoạn được giản hoá. Chị công nhân dán giày chỉ làm một thao tác là phết keo dán đế giày, trong khi đó anh thợ giày có thể làm từ A đến Z để chế tạo ra cái giày hoàn chỉnh. Và người ta đưa máy móc vào để tăng năng suất của các động tác siêu đơn giản và giảm số người cần dùng trong đó.

Mô hình như vậy giả định sự tổ chức sản xuất tập trung quy mô lớn, sử dụng nhiều nhân công trong hệ thống nhiều khâu mà mở đầu chính là công trường thủ công. Nó cũng giả định nhu cầu tăng sản lượng rất lớn và lâu dài khiến người ta phải cách mạng hoá việc sản xuất. Điều đó không tồn tại trong nền sản xuất hộ cá thể nhỏ lẻ, phân tán, người lao động gắn chặt với tư liệu sản xuất và có khả năng tự túc tự cấp. Các thành thị tiền tư bản đã xuất hiện sự chuyên môn hoá và phân công lao động nhưng về căn bản vẫn là mô hình sản xuất nhỏ. Thợ thủ công cần nhiều thời gian học việc, lao động phức tạp nhiều thao tác của toàn bộ quy trình chế tạo sản phẩm hoặc linh kiện đòi hỏi sự khéo léo và trí óc, chứ không phải thao tác đơn điệu có thể thay bằng máy móc. Các quy chế phường hội bảo vệ chế độ sản xuất cá thể và trói buộc thợ thủ công vào chế độ đó, ví dụ nó giới hạn số thợ phụ và thợ học việc mà ông thợ cả tuyển mộ, buộc ông ta phải đào tạo thợ học việc thành nghề, giới hạn sản phẩm và giá bán. Thợ cả không thể đầu tư sản xuất quy mô lớn với máy móc và lao động làm thuê vì điều đó giả định tích lũy tư bản và lao động tự do, cả hai thứ đều không tồn tại. Đồng thời nền sản xuất tiền tư bản cũng dựa trên sự độc quyền sản xuất và buôn bán trong từng ngành nghề, tầng lớp, trong các thị trường phân tán. Thương nhân chỉ mua gom hàng hoá của thợ thủ công, không mua sức lao động của thợ, không có quyền mở xưởng thuê mướn thợ vì điều đó động chạm đến độc quyền sản xuất của phường hội. Ở đầu ra, thương nhân nắm thị trường tiêu thụ dựa trên đặc quyền buôn bán mà họ mua được của vua chúa, với đặc quyền đó họ thu được món lãi khổng lồ và không mấy có động lực đầu tư sản xuất. Có thể thấy, các quy tắc của phường hội và xã hội phong kiến đã chống lại việc hình thành các nhà tư bản và chế độ sản xuất lớn của chủ nghĩa tư bản.

Quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa ở Anh đã tập trung lượng rất lớn tư liệu sản xuất trong tay một số ít người bằng cách cướp đoạt tư liệu sản xuất của rất nhiều người khác, tạo thành một tầng lớp đông đảo người lao động bị vô sản hoá, mất khả năng tự túc tự cấp, phụ thuộc vào việc đi làm công ăn lương và dùng tiền lương mua hàng tiêu dùng. Điều đó tạo thành nguồn lao động dự bị và cũng là thị trường lớn lao cho các cơ sở công nghiệp. Ở nông thôn, việc cướp đoạt ruộng đất đã hình thành chế độ trang trại tư bản chủ nghĩa, bóc lột công nhân làm thuê, sử dụng công cụ tối tân để nâng cao năng suất; các thay đổi trong sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất và nguồn lương thực nuôi sống lượng lao động phi nông nghiệp ngày càng đông đảo – dù là mức sống lay lắt không hơn con vật bao nhiêu.

Thị trường hàng tiêu dùng và thị trường lao động phình to vượt quá quy mô sản xuất của các phường hội truyền thống và điều đó khiến cho chế độ phường hội phải biến mất nhường chỗ cho công trường thủ công của chủ nghĩa tư bản. Thợ cả phường hội không đào tạo cho thợ học việc thành nghề nữa mà chỉ đào tạo số công đoạn chuyên biệt trong quá trình sản xuất. Nhằm giảm tiền công cũng như chi phí đào tạo và tận dụng đội quân vô sản thất nghiệp đông đảo vốn chỉ là lao động phổ thông, thợ cả cũng thay đổi quy trình sản xuất, chia thành nhiều công đoạn càng đơn giản càng tốt để cho người không có nghề cũng có thể làm được – và đương nhiên người này sẽ ăn lương thấp hơn nhiều so với thợ lành nghề. Việc bãi bỏ chế độ sản xuất cá thể, phân tán vừa khiến thợ cả bóc lột thật nhiều lao động thặng dư của thợ phụ và vô sản làm thuê, đồng thời cũng giúp tăng hiệu suất, tốc độ làm việc. Và chính trên cái nền tảng công trường thủ công đó thì việc thay thế tay chân bằng máy móc, tức là cách mạng công nghiệp, mới ra đời. Các bạn có thể đọc thêm về vấn đề này trong chương 14 https://www.marxists.org/archive/marx/works/1867-c1/ch14.htm và chương 15 của bộ Tư bản.

Đến đây mọi người có thể thấy các thay đổi căn bản của điều kiện kinh tế – xã hội đã tạo điều kiện cho cách mạng công nghiệp, việc sáng chế máy móc là kết quả của nhu cầu phát sinh do sự thay đổi đó, chúng được chế tạo phù hợp với điều kiện và nhu cầu có sẵn đó. Chứ không phải tự nhiên sáng chế ra cái máy thì phường hội phong kiến biến thành nhà máy xí nghiệp, tư duy như vậy là ngược với sự thật. Đành rằng phải có khoa học kỹ thuật, kỹ sư, nhà khoa học thì mới chế được máy, nhưng bản thân họ không làm ra cách mạng công nghiệp từ hư không. Những cái họ nghiên cứu và sáng chế phải giả định sự tồn tại của chế độ công nhân làm thuê của chủ nghĩa tư bản được định hướng để phục vụ cho chế độ công nhân làm thuê đó.

Các sách vở phương Tây hay mô tả việc tập trung sản xuất lớn kiểu tư bản hình thành từ phường hội thủ công, tức là thương nhân hay thợ cả tìm cách độc chiếm tư liệu sản xuất của phường hội và biến thợ thủ công thành công nhân làm thuê. Nhưng thể chế phường hội không dễ dàng bị phá huỷ như vậy. Các quy tắc của phường hội trong ngành len dạ ở Anh đến thế kỷ XVII còn rất mạnh và vì vậy cách mạng công nghiệp không khởi phát ở đây mặc dù nó là ngành phát đạt nhất ở Anh. Trái lại ngành bông vải mới nổi, phân tán ở nông thôn, ít có các quy chế phường hội, là nơi bùng nổ của cách mạng công nghiệp. Cách mạng trong phương thức sản xuất không tự nhiên bắt nguồn từ phường hội thủ công. Sự tồn tại của thợ thủ công giả định nền nông nghiệp phát triển đủ mạnh để nuôi sống lao động phi nông nghiệp, vì vậy phường hội thủ công phụ thuộc vào quan hệ sản xuất phong kiến và nó có phát triển đến đâu cũng không thoát khỏi cái ràng buộc đó. Trái lại, quan hệ sản xuất phong kiến tan rã đã giải phóng nó.

Ý THỨ BA: Máy hơi nước và “an ninh năng lượng” của cách mạng công nghiệp

Trong chương 15 của bộ Tư bản, Các Mác phân chia máy móc thành 3 bộ phận chính: động cơ, truyền động, và máy công cụ. Phần máy công cụ thực chất là công cụ của anh công nhân thủ công được cải biên, nó thực hiện đúng cái thao tác của anh công nhân bị máy móc thay thế, thứ thao tác đơn điệu lặp đã nói ở trên. Còn phần động cơ của máy móc có tác dụng biến năng lượng từ nguồn bên ngoài thành sức đẩy máy công cụ thực hiện thao tác. Trong các loại máy móc thô sơ bán tự động thì chính con người đảm nhiệm phần động cơ, ví dụ đạp chân hay quay bánh xe máy may, thao tác may do kim máy thực hiện. Và khi con người chỉ còn vai trò sức đẩy thì người ta có thể thay thế sức người bằng sức ngựa, sức nước, sức gió, sức của máy hơi nước, máy xăng dầu, máy điện, tức là cung cấp cho nó nguồn năng lượng khác để nó chạy tự động và thay thế vị trí của công nhân.

Máy móc thô sơ ban đầu sử dụng sức người, sức ngựa, sức gió hay sức nước. Nhưng điều đó khiến việc sản xuất lệ thuộc hoặc là vào giới hạn thể chất, hoặc vào vị trí địa lý (phải đặt nhà máy ở nơi có sông ngòi) và thời gian (mùa đông sông ngòi đóng băng là máy tịt); máy không thể chạy liên tục và chỉ hạn chế trong một số địa điểm vì nguồn cung năng lượng không đảm bảo. Đồng thời, gió và nước chảy nhanh chậm không thể khống chế được, vì vậy công suất máy móc khó chọn lựa theo ý mình. Thế rồi máy hơi nước ra đời như một bước ngoặt. Máy hơi nước giúp con người sử dụng được nguồn năng lượng từ than đá dồi dào, có thể vận chuyển và lưu trữ và sử dụng ở những nơi, những lúc không có gió và thác nước. Người ta cũng có thể ít nhiều chọn lựa công suất máy mà không phụ thuộc vào ông trời cái gió hay giới hạn thể chất sinh vật. Vì vậy nó giải phóng sản xuất khỏi sự chật hẹp về thể chất, điều kiện tự nhiên, địa lý và thời gian, mở rộng toàn diện quy mô công nghiệp hóa, giúp duy trì hệ thống sản xuất công nghiệp phát triển mạnh mẽ về thời gian, không gian và cường độ hoạt động. Chính việc giải phóng giới hạn công suất đã đặt tiền đề cho sự phát triển của công nghiệp nặng, mà Các Mác đã trình bày trong chương 15 của bộ Tư bản.

Vai trò bước ngoặt của máy hơi nước, cũng như các máy xăng dầu, máy điện nằm ở chỗ nó đảm bảo “an ninh năng lượng” cho đại công nghiệp và khả năng điều khiển công suất làm việc, nhờ đó công nghiệp phát triển mạnh mẽ về chiều rộng lẫn chiều sâu. Người ta nói an ninh năng lượng chứ không phải an ninh máy móc là như thế. Việc phân tích 3 bộ phận của máy móc như trên giúp ta hiểu vì sao máy hơi nước là biểu tượng của cách mạng công nghiệp.
Nhưng, như Các Mác đã nói, máy hơi nước không tự mình làm ra cách mạng công nghiệp. Chính thay đổi trong sản xuất đặt ra nhu cầu dùng máy hơi nước, được thiết kế theo hướng làm phần động cơ thay thế cho sức người, sức ngựa, sức nước… cho những máy công cụ có sẵn, trong chế độ công nhân làm thuê của chủ nghĩa tư bản, phục vụ cho nhu cầu tăng năng suất và mở rộng sản xuất của chủ nghĩa tư bản. Các nhà phát minh không quyết định lịch sử như Chúa Trời, mà nhu cầu phải có máy hơi nước là tất yếu khách quan và các nhà phát minh chỉ thực hiện nhiệm vụ khách quan của sự phát triển sản xuất.

Ý THỨ TƯ: Công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng

Một quan điểm hiện nay trên facebook, tương tự như trong hình, cho rằng cách mạng công nghiệp phải đi từ công nghiệp nặng, vì vậy họ cho rằng cách mạng công nghiệp ở Anh là sản phẩm tuyên truyền của phái công nghiệp nhẹ, phái những người “yêu cá, ghét thép, phá hoại công nghiệp và khoa học”. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng xây dựng công nghiệp nặng hiện đại, phát triển ở Việt Nam là điều cực kì cần thiết. Tôi cũng hoàn toàn phản đối những luận điệu bịa đặt của một số người thiếu lương thiện nói rằng không cần sản xuất thép vẫn sống tốt. Tuy nhiên, chuyện nào ra chuyện đó, việc bảo rằng cách mạng công nghiệp trước hết ở công nghiệp nặng là hoàn toàn xuyên tạc lộn ngược lịch sử.

Công nghiệp nhẹ là sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, còn công nghiệp nặng là sản xuất ra tư liệu sản xuất, ví dụ máy móc, vì vậy công nghiệp nặng giả định tồn tại nền sản xuất hàng tiêu dùng đủ mạnh để nuôi những người làm công nghiệp nặng, sản xuất hàng tiêu dùng yếu đuối mà nhào vào công nghiệp nặng ngay thì vỡ mồm. Cách mạng trong công nghiệp nặng cũng phải giả định tiên đề là nhu cầu tư liệu sản xuất rất lớn, tức là nền công nghiệp cơ khí đang mở rộng mạnh mẽ. Và để sản xuất lớn tư liệu sản xuất đòi hỏi cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật nhất định. Đối với nước Anh trong giai đoạn đầu chuyển mình từ công trường thủ công sang công trường máy tự động, không thể kiếm đâu ra một cơ sở sản xuất khủng như vậy và cũng không kiếm đâu ra một thị trường khủng như thế cho máy móc.

Trong cách mạng công nghiệp ở Anh, lịch sử cho thấy công nghiệp nhẹ đi trước công nghiệp nặng, con xe kéo sợi là khởi điểm của việc áp dụng đại trà máy móc cho sản xuất lớn, chứ không phải luyện thép hay chế súng. Trong thời gian chập chững đó, máy móc được chế tạo thủ công đúng nghĩa đen, bằng sự khéo tay và cơ bắp của thợ thủ công, chương 15 của bộ Tư bản đã trình bày chi tiết chuyện đó. Nhưng khi sản xuất bằng máy móc tăng trưởng mạnh lên nó nảy sinh nhu cầu lớn về số lượng cũng như chất lượng máy móc (kích thước, độ chính xác, độ phức tạp, nguyên liệu khó gia công…) vượt quá bắp thịt và bàn tay của thợ thủ công, lúc đó mới nảy sinh nhu cầu cách mạng công nghiệp nặng và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, định hướng nghiên cứu cho công nghiệp nặng. Máy hơi nước với công suất cực lớn và có thể chọn lựa được là một trong các tiền đề khoa học cho cách mạng công nghiệp nặng.

Và như một sự lặp lại của vòng xoắn lịch sử, phần máy công cụ trong công nghiệp nặng chính là các công cụ của người thợ thủ công, nhưng phóng to lên nhiều lần, được đẩy bởi một động cơ siêu khoẻ và có thể làm những việc mà không cơ bắp nào làm nổi.

Nhiều khi chúng ta bị tư duy ngược kiểu duy tâm, cho rằng một siêu thiên tài chế ra cái máy hay phát hiện ra bí mật của sắt thép thì lập tức nền sản xuất thủ công nhỏ lẻ biến thành đại công nghiệp máy móc. Sự thật thì ngược lại, nhu cầu và điều kiện khách quan của xã hội mới là động lực cho cách mạng công nghiệp và là động lực cho việc nghiên cứu phát minh khoa học để giải quyết nhu cầu khách quan đó. Nước Anh thế kỷ 18 đặt ra nhu cầu giải phóng sức sản xuất khỏi ràng buộc tự nhiên, ông Giêm Oát chế ra máy hơi nước để giải quyết nhu cầu đó. Sau đó xuất hiện nhu cầu sắm sửa thật nhiều máy móc để mở rộng công nghiệp, từ đó mới thúc đẩy cách mạng trong công nghiệp nặng. Lịch sử không diễn tiến theo kiểu một số anh hùng cái thế áp đặt ý chí của mình như Chúa Trời, mà các anh hùng được sinh ra để giải quyết nhiệm vụ khách quan của lịch sử.

Ý THỨ NĂM: các nhà kỹ trị đã trồng cây chuối như thế nào

Ở bài viết trước tôi đã đề cập đến một trường phái tạm gọi là kỹ thuật quyết định luận, trường phái này tôn sùng khoa học kỹ thuật và cho rằng sự phát triển khoa học kỹ thuật quyết định hết mọi diễn biến trong xã hội. Nhưng khoa học kỹ thuật không tự nhiên sinh ra mà là sản phẩm trực tiếp của giới trí thức và gắn liền với hình tượng giới học giả. Vậy là chủ nghĩa duy tâm lộ nguyên hình. Bản chất của trường phái kỹ thuật quyết định luận là nó biện hộ cho sự thống trị một dúm người “tinh hoa” lên trên xã hội, trường phái này cho rằng những người tinh hoa kiệt xuất là những kẻ quyết định nên lịch sử, họ nói như thế nào thì xã hội sẽ thay đổi thế đấy như Chúa Trời. Phần còn lại của xã hội không đáng quan tâm, chỉ là chó lợn liệt não cặn bã xã hội ngu ngốc, cứ im lặng mà bị xén lông giết thịt. Một số người trong đó xưng là môn đồ của Các Mác, xưng là bạn của người lao động, nhưng các luận điểm của họ không có chút gì lao động trong đó cả, mà chỉ biện họ cho một xã hội bất bình đẳng, phân biệt đẳng cấp, trong đó chỉ có những “lao động tinh hoa” như chủ doanh nghiệp (????) có quyền thống trị xã hội, còn nhân dân lao động thì chỉ im lặng mà vâng lời.

Ở đây không phủ nhận vai trò của các học giả và giới trí thức trong xã hội. Nhưng vấn đề ở đây giới trí thức không quyết định dòng chảy của lịch sử. Xã hội vận động theo các quy luật khách quan, đến một thời điểm nhất định phát sinh các nhu cầu cần có người giải quyết. Những cá nhân kiệt xuất nhìn thấy ít nhiều nhu cầu tất yếu đó và hợp tác với mọi người để xử lý nó, chứ không phải họ có quyền năng của Thượng Đế thích lịch sử đi theo chiều nào thì nó theo chiều nấy. Ông Giêm Oát chế máy hơi nước không phải vì ông ấy thích xã hội máy móc, mà vì nước Anh thế kỷ XVIII xuất hiện nhu cầu thay thế sức người, sức nước bằng một nguồn sức đẩy mạnh mẽ hơn, không bị khống chế bởi giới hạn tự nhiên. Không có ông Oát làm thì ông khác sẽ làm, nhu cầu khách quan của sản xuất cần có người chế máy hơi nước và các nhà khoa học hay kỹ sư phải nghiên cứu theo hướng đó. Ngược lại, trong một xã hội mà nhu cầu thay thế lao động thủ công bằng máy móc không gay gắt, thì cái máy hơi nước của ông Hêrông chỉ dùng để đóng mở đền thờ.

Chính là sự thay đổi trong điều kiện xã hội mà cụ thể là phương thức sản xuất đã quyết định sự thay đổi của những điều như giáo dục và nghiên cứu khoa học. Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì những điều đó cũng mang tính giai cấp. Trong xã hội phong kiến Á Đông, mấy ông móng tay dài học sách Nho hay làm thơ không phải vì các ông ấy thích thế, mà những cái đấy cần cho việc làm quan, tức là phục vụ cho tầng lớp thống trị là vua chúa phong kiến, bảo vệ cho trật tự và thể hiện tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến. Trong chủ nghĩa tư bản, thì các ngài học giả trí thức bị lột sạch vầng hào quang thần thánh, trở thành kẻ làm thuê cho giai cấp tư sản. Các nhà khoa học nghiên cứu phát minh đủ thứ, thì sản phẩm họ làm ra cũng bán cho các nhà tư bản đi kinh doanh, vì vậy họ phải định hướng nghiên cứu của mình để phục vụ cho lợi ích của các nhà tư bản. Máy móc do Giêm Oát, Têxưla hay Êđixơn chế ra đều giả định sự tồn tại của chế độ công nhân làm thuê và phục vụ cho các nhu cầu của chế độ đó, đem nó về thời phong kiến hay nô lệ thì nó là món đồ diễn xiếc ảo thuật không hơn không kém. Việc đào tạo, học hành được định hướng là tạo ra lực lượng lao động làm thuê cho chủ tư bản mà người ta hay nói một cách mỹ miều là “sinh viên ra trường có việc làm”. Một ông trùm tư bản thật thà đã diễn thuyết rằng, các bạn sinh viên hãy nghỉ học đi, các bạn học cho lắm vào cũng đi làm thuê làm mướn cho những thằng trọc phú chưa chắc có bằng cấp bằng các bạn. Sự thật cay đắng nó là như thế, các kỹ sư, các nhà khoa học đáng kính, chẳng qua chỉ là những con lừa đi kéo cối xay.

Chính vì thế mà chủ nghĩa Mác là cơn ác mộng đối với nhiều người trong giới trí thức, vì với góc nhìn duy vật biện chứng ông Mác đã chứng minh rằng các học giả đang trồng cây chuối trong tháp ngà tự kỷ của mình.
Status này được dùng để đăng tải lại một số bài viết và comment trong nhóm Chủ nghĩa Xã hội khoa học, fanpage của Đồng Minh những người cộng sản. Thể theo yêu cầu và cũng được sự đồng ý của các tác giả, chúng tôi sẽ đăng bài viết này dưới dạng khuyết danh, và có hiệu đính lại một chút nội dung.

Để tìm hiểu thêm về chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, bạn đọc có thể tham khảo thêm hai tác phẩm do Phơriđơrích Ăngghen biên soạn. Thứ nhất là “Lútvích Phơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. (Ludwig Feuerbach and the End of Classical German Philosophy) Thứ hai là “chống Đuyrinh”. (Anti-Duhring) Hai tác phẩm này có thể được đọc miễn phí rộng rãi trên mạng. Chúng tôi luôn khuyến khích độc giả chủ động học hỏi nâng cao kiến thức và trình độ, cũng như rất biết ơn những con người thầm lặng chủ động chia sẻ kiến thức cho xã hội mà không đòi hỏi gì.

===o0o===

NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 1)

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Chúng ta thường nhầm tưởng rằng phép duy vật biện chứng của Các Mác và Ph. Ăngghen là sự kết hợp giữa thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc và phép biện chứng của Hêghen. Trên thực tế điều đó không đúng. Bản thân Các Mác đã phủ nhận điều này và trong lời nói đầu tác phẩm “Tư bản” thì ông đã bảo phép biện chứng duy vật hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen. Còn Phơriđơrích Ăngghen thì nhận định rằng phép biện chứng của Hêghen chính là một thiên tài nhưng đi lộn đầu trồng cây chuối.

Cũng như vậy, Các Mác đã phê phán thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc vì nó tách xã hội loài người và giới tự nhiên ra làm hai cực đối lập, tách biệt giữa quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, tách biệt giữa tồn tại, duy nhất và thống nhất. Có thể thâý việc phê phán thế giới quan duy vật siêu hình mạnh nhất là trong tác phẩm “chống Đuyrinh” của Ph. Ăngghen.

Vậy thì phép biện chứng duy vật là gì và tại sao nó khác hoàn toàn với cả thế giới quan duy vật Phơbắc lẫn phép biện chứng Hêghen ? Câu trả lời cụ thể đó là việc phát hiện ra phép biện chứng duy vật là toàn bộ quá trình phát triển tư tưởng Các Mác và Ph. Ăngghen khi hai ông đi từng bước trong quá trình nhận thức và trưởng thành về hệ tư tưởng mà chúng tôi sẽ trình bày thành nhiều kỳ cho bạn đọc dễ hiểu trong các phần dưới đây.

II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC: THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Để hiểu được phép duy vật biện chứng chúng ta cần hiểu được rằng tại sao Mác lại lựa chọn THẾ GIỚI QUAN duy vật và PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng. Nhưng trước hết chúng tôi xin mạn phép trình bày về hai khái niệm “thế giới quan” và “phương pháp luận”.

THẾ GIỚI QUAN là cách nhận thức thế giới của cá nhân hay xã hội loài người về giới tự nhiên, và thế giới quan duy vật là một mặt của thế giới quan triết học, nó hình thành ngay từ khi bắt đầu có triết học, tồn tại đối lập và thống nhất với thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy vật cho rằng giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức, thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người. Thế giới quan duy tâm cho rằng ý thức là cái có trước và ý thức sản sinh ra giới tự nhiên.

PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng là một trong hai phương pháp luận cơ bản của triết học. Phương pháp luận còn lại là siêu hình. Phương pháp luận dựa trên quá trình tư duy của con người và khác hoàn toàn với phương pháp nghiên cứu. Biện chứng là phương pháp luận xây dựng dựa trên nền tảng của sự vận động, tính thống nhất và tương tác giữa các sự vật và tính vô hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên. Còn siêu hình là là phương pháp luận dựa trên sự đứng yên, tính độc lập và tính hữu hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên.

Cả thế giới quan lẫn phương pháp luận đều được hình thành trước chủ nghĩa tư bản và không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.

III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC MÁC THỜI TRẺ

Các Mác và Ph. Ăngghen vào thời trẻ vẫn chưa đi theo phép duy vật biện chứng. Ban đầu cả hai ông là người duy tâm.

1. Nền tảng tư tưởng của Mác triết khi tiếp xúc với triết học.

Thời trẻ Các Mác là một trong những người ủng hộ phong trào tự do tư sản ở nước Phổ. Nguyên do là vì Các Mác chịu ảnh hưởng về tư tưởng từ bố đẻ và bố vợ của mình, hai cụ đều là những người đại diện cho giai cấp tư sản và đấu tranh chống chế độ vua chúa ở Phổ. Bố đẻ của Các Mác, cụ Hăngrích Mác, là một luật sư và ông đi theo tư tưởng triết học khai sáng của Pháp với tinh thần nhân đạo tư sản. Nền tảng của triết học khai sáng là tư tưởng tự do và phương pháp luận siêu hình, đặc biệt trong các vấn đề luật pháp. Điều này đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng triết học thời trẻ của Mác khi cụ Hăngrích định hướng cho Mác học luật.

Còn bố vợ của Mác, cụ Lútvích phôn Vétxphalen là một nhà quý tộc, cố vấn chính phủ và là người theo thuyết tự do tư sản. Cụ là người thứ hai ảnh hưởng đến nền tảng triết học của Mác, bản thân việc đi học của Mác ban đầu hướng tới việc trở thành một viên chức nhà nước để xây dựng chính sách pháp luật hơn là trở thành một nhà cách mạng. Cụ Vétxphalen cũng giúp Mác tìm hiểu về các vấn đề xã hội và con người, sự khác biệt về giàu nghèo giữa các giai cấp trong xã hội và truyền cho Mác tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng.

Chính vì vậy, trong bài luận văn tốt nghiệp trung học “Những suy nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề” của Các Mác đã thể hiện hai yếu tố rất rõ ràng. Thứ nhất: ông đề cập đến mối quan hệ xã hội giữa cá nhân và cộng đồng, khẳng định rằng cá nhân là một phần không thể tách rời khỏi cộng đồng. Đặc biệt việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân lại là kết quả và ảnh hưởng ngược lại đến các xu hướng xã hội.. Thứ hai: Mác đề cập đến tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng và nhân đạo kiểu Pháp, trong đó ông xây dựng một nhân sinh quan của cuộc đời mình dựa trên chủ nghĩa nhân đạo cao cả.

2. Sự từ bỏ phương pháp luận siêu hình để đến với phương pháp luận biện chứng.

Không có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên trong thời gian học đại học, Các Mác đã từ bỏ phương pháp luận siêu hình. Dấu hiệu đầu tiên đó là Mác từ bỏ việc học ở đại học Bon mà chuyển đến đại học Béclin. Các kiến thức về luật học ở Bon không đáp ứng được với yêu cầu của Mác thời trẻ, đặc biệt là khi phong trào tự do tư sản đang phát triển mạnh mẽ ở nước Đức. Ông cảm thấy mất hứng thú với môn luật ở đây, nơi mà tư duy siêu hình đang thống trị.

Nhưng ngành luật ở Béclin cũng không đáp ứng được nhu cầu của Mác. Ông bỏ ngành luật và chuyển sang toán học cũng như khoa học tự nhiên, trong đó toán học là một trong những môn học đòi hỏi tính logic siêu hình rất rõ nét. Một thời gian sau Mác cũng từ bỏ ngành toán và bắt đầu thử sức với triết học, đặc biệt là triết học biện chứng của Hêghen. Sự khác biệt giữa đại học Béclin và đại học Bon đó là tại Béclin thì tư tưởng của nhà triết học Hêghen đã thống trị từ ông giảng dạy ở đây từ năm 1818 - 1831. Các môn đồ của Hêghen vẫn tiếp tục giảng dậy ở trường đại học Béclin trong nhiều chuyên ngành quan trọng.

Đến thời điểm này Mác vẫn là một nhà triết học duy tâm chịu ảnh hưởng của Căngtơ, Hêghen và chủ nghĩa khai sáng của Vônte. Mác tham gia “câu lạc bộ Tiến sĩ”, nơi tụ hội của một trường phái những người đi theo phép biện chứng Hêghen gọi là “phái Hêghen trẻ”. Đại diện nổi bật nhất của phái này là Brunô Bauơ. Đây cũng là bước chuyển cho thấy Mác từ bỏ phương pháp luận siêu hình và đến hẳn với phương pháp luận biện chứng. Chính vì vậy Mác đã đề cập đến vấn đề biện chứng ngay trong luận án tiến sĩ của mình với tiêu đề “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Democritus và triết học tự nhiên của Epicurus nói chung”. Bên cạnh đó Mác cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng về hệ thống nhà nước pháp quyền của trường phái Hêghen trong những năm tháng học tại trường đại học.

Có điều triết học duy tâm biện chứng của Hêghen mà cụ thể đó là phương pháp luận biện chứng của Hêghen lại hàm chứa những mâu thuẫn. Thứ nhất triết học Hêghen cho rằng mọi thứ đều là sự vận động của một “ý niệm tuyệt đối”, và hình thái cao nhất của “ý niệm tuyệt đối” lại là nhà nước pháp quyền Phổ. Tuy nhiên nói vậy phải chăng khi đạt được đến nhà nước pháp quyền Phổ thì mọi sự vận động đều không còn vận động nữa ?

Thứ hai nếu “ý niệm tuyệt đối” là sự quyết định mọi quy luật vận động thì vai trò của loài người trong quá trình nhận thức như thế nào. Nếu việc nhận thức giới tự nhiên chỉ là việc nhận thức “ý niệm tuyệt đối” vậy các ngành khoa học lúc đó có cần vận động nữa không ?

Thứ ba, về bản chất “ý niệm tuyệt đối” thật ra không khác gì với các khái niệm như “chúa trời”, “thượng đế”, vậy xét đến cùng triết học của Hêghen chỉ là một bản sao của kinh Thánh với phép biện chứng vận động trong một khuôn khổ được “ý niệm tuyệt đối” cho phép, như vậy các quy luật vận động của giới tự nhiên là do “ý niệm tuyệt đối” quyết định và người nào đó nhận thức được “ý niệm tuyệt đối” tức anh ta sẽ không còn chịu ảnh hưởng của  quy luật tự nhiên nữa.

Đây chính là những mâu thuẫn buộc Mác không ngừng vận động, phê phán chính bản thân mình để từ bỏ triết học duy tâm của Hêghen. Đối với Mác việc tiếp thu phép biện chứng của Hegel đồng thời cũng tiếp thu luôn cả tinh thần phê phán của phép biện chứng và tự phê phán đối với bản thân.