ĐÔI ĐIỀU VỀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP HAY CÒN GỌI LÀ CÁC NHÀ KỸ TRỊ ĐÃ TƯ DUY LỘN NGƯỢC VỀ LỊCH SỬ NHƯ THẾ NÀO
Trong bài viết trước tôi có ghi rằng cách mạng công nghiệp không khởi phát ở các nước Đông Âu hay các nước phương Đông, nơi có các phát kiến quan trọng về kỹ thuật ví dụ như thuật luyện thép và thuốc súng. Nó cũng không khởi phát trong các thành thị công thương sầm uất hay các đế quốc thương mại ở Trung và Nam Âu. Cách mạng công nghiệp khởi phát trong nước Anh, một quốc gia có nền công thương không mấy nổi bật, và nó cũng khởi phát trong ngành bông vải còn non trẻ và phân tán chứ không phải trong các ngành công nghiệp trù phú và lâu đời ở Anh như ngành len dạ. Điều kỳ quặc này đã khiến một số bạn đọc, ví dụ như trong hình đính kèm, cảm thấy khó hiểu và đề nghị cần phải giải thích rõ ràng. Vì vậy bài viết này sẽ có mục tiêu làm rõ các yếu tố giúp cho nước Anh có thể thực hiện được cuộc cách mạng công nghiệp vào thời cận đại.
Ý THỨ NHẤT: Phát minh ra máy hơi nước không phải là cách mạng công nghiệp
Trước hết cần phải làm rõ. Cách mạng công nghiệp: ĐÓ LÀ SỰ NHẢY VỌT TỪ LAO ĐỘNG THỦ CÔNG SANG LAO ĐỘNG BẰNG MÁY MÓC. Cách mạng công nghiệp KHÔNG phải là đúc súng, luyện thép, phát minh ra máy móc. Bản thân việc phát minh ra cách luyện thép hay một cái máy không tạo ra cách mạng công nghiệp, mặc dù chúng là tiền đề khoa học của cách mạng công nghiệp hoặc là một hoạt động trong cách mạng công nghiệp. Trong chương 15 của bộ Tư bản, https://www.marxists.org/archive/marx/works/1867-c1/ch15.tm Các Mác đã nói rất rõ ràng, nhiều loại máy móc đã tồn tại thời kỳ tiền công nghiệp, nhưng việc chế ra chúng không tạo ra cách mạng trong sản xuất.
Máy hơi nước đã được Hêrông làm ra từ thời cổ để đóng mở các đền thờ ở La Mã. Tuy nhiên cách mạng công nghiệp không xảy ra ở La Mã, người La Mã không chạy xe công nông hay là làm việc trong nhà máy mà vẫn canh tác thủ công bằng các công cụ thô sơ lạc hậu. Cách mạng luyện thép và chế súng ở các nước phương Đông không thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc, nền sản xuất căn bản của các nước này vẫn là nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp xoay quanh các hộ sản xuất cá thể, phân tán, với lao động thủ công là chủ đạo và người lao động gắn chặt với tư liệu sản xuất.
Vấn đề là chúng ta hay tư duy ngược vấn đề một cách duy tâm, kiểu như một học giả hay siêu nhân chế ra một cái máy thì lập tức phường hội thủ công biến thành nhà máy xí nghiệp, trang trại phong kiến biến thành đồn điền công nghiệp. Sự thật diễn ra ngược lại, sự thay đổi quan hệ sản xuất đã tạo ra nhu cầu áp dụng máy móc và cách mạng công nghiệp; máy hơi nước, máy điện, máy dệt, lò Mác-tanh… đều đòi hỏi tiên đề là chế độ công nhân làm thuê trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và đều được làm ra để phục vụ cho chế độ đấy. Đem cái máy của Giêm Oát hay Têxưla về thời cổ đại nó chỉ là món đồ chơi không hơn không kém. Sự tồn tại máy hơi nước không tạo ra cách mạng công nghiệp, mà thay đổi trong hoạt động sản xuất đã đặt ra nhu cầu chế ra một kiểu máy hơi nước dùng vào sản xuất.
Ý THỨ HAI: Xuất phát điểm của cách mạng công nghiệp Anh là công trường thủ công tư bản chủ nghĩa
Một trong các điều kiện để áp dụng máy móc thay thế cho con người đó là thao tác lao động phải bị giản hóa thành những động tác rất đơn điệu, lặp lại. Một cái máy tinh vi hiện nay chưa chắc thực hiện nổi chuỗi động tác phức tạp đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo và trí óc của anh thợ giày – trừ phi nó là Đôrêmon – nhưng nó có thể làm các động tác đơn giản với tốc độ và sức lực gấp nhiều lần. Cái máy tính không thể ngồi giải định lý Phécma – trừ phi nó là Đôrêmon – nhưng nó có thể cộng trừ nhân chia nhanh gấp nghìn lần một nhà toán học. Thao tác đơn điệu là một đặc điểm của mô hình sản xuất hiện đại, bắt đầu từ công trường thủ công, sản xuất theo dây chuyền với quy trình được chia nhỏ thành nhiều công đoạn để mỗi công đoạn được giản hoá. Chị công nhân dán giày chỉ làm một thao tác là phết keo dán đế giày, trong khi đó anh thợ giày có thể làm từ A đến Z để chế tạo ra cái giày hoàn chỉnh. Và người ta đưa máy móc vào để tăng năng suất của các động tác siêu đơn giản và giảm số người cần dùng trong đó.
Mô hình như vậy giả định sự tổ chức sản xuất tập trung quy mô lớn, sử dụng nhiều nhân công trong hệ thống nhiều khâu mà mở đầu chính là công trường thủ công. Nó cũng giả định nhu cầu tăng sản lượng rất lớn và lâu dài khiến người ta phải cách mạng hoá việc sản xuất. Điều đó không tồn tại trong nền sản xuất hộ cá thể nhỏ lẻ, phân tán, người lao động gắn chặt với tư liệu sản xuất và có khả năng tự túc tự cấp. Các thành thị tiền tư bản đã xuất hiện sự chuyên môn hoá và phân công lao động nhưng về căn bản vẫn là mô hình sản xuất nhỏ. Thợ thủ công cần nhiều thời gian học việc, lao động phức tạp nhiều thao tác của toàn bộ quy trình chế tạo sản phẩm hoặc linh kiện đòi hỏi sự khéo léo và trí óc, chứ không phải thao tác đơn điệu có thể thay bằng máy móc. Các quy chế phường hội bảo vệ chế độ sản xuất cá thể và trói buộc thợ thủ công vào chế độ đó, ví dụ nó giới hạn số thợ phụ và thợ học việc mà ông thợ cả tuyển mộ, buộc ông ta phải đào tạo thợ học việc thành nghề, giới hạn sản phẩm và giá bán. Thợ cả không thể đầu tư sản xuất quy mô lớn với máy móc và lao động làm thuê vì điều đó giả định tích lũy tư bản và lao động tự do, cả hai thứ đều không tồn tại. Đồng thời nền sản xuất tiền tư bản cũng dựa trên sự độc quyền sản xuất và buôn bán trong từng ngành nghề, tầng lớp, trong các thị trường phân tán. Thương nhân chỉ mua gom hàng hoá của thợ thủ công, không mua sức lao động của thợ, không có quyền mở xưởng thuê mướn thợ vì điều đó động chạm đến độc quyền sản xuất của phường hội. Ở đầu ra, thương nhân nắm thị trường tiêu thụ dựa trên đặc quyền buôn bán mà họ mua được của vua chúa, với đặc quyền đó họ thu được món lãi khổng lồ và không mấy có động lực đầu tư sản xuất. Có thể thấy, các quy tắc của phường hội và xã hội phong kiến đã chống lại việc hình thành các nhà tư bản và chế độ sản xuất lớn của chủ nghĩa tư bản.
Quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa ở Anh đã tập trung lượng rất lớn tư liệu sản xuất trong tay một số ít người bằng cách cướp đoạt tư liệu sản xuất của rất nhiều người khác, tạo thành một tầng lớp đông đảo người lao động bị vô sản hoá, mất khả năng tự túc tự cấp, phụ thuộc vào việc đi làm công ăn lương và dùng tiền lương mua hàng tiêu dùng. Điều đó tạo thành nguồn lao động dự bị và cũng là thị trường lớn lao cho các cơ sở công nghiệp. Ở nông thôn, việc cướp đoạt ruộng đất đã hình thành chế độ trang trại tư bản chủ nghĩa, bóc lột công nhân làm thuê, sử dụng công cụ tối tân để nâng cao năng suất; các thay đổi trong sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất và nguồn lương thực nuôi sống lượng lao động phi nông nghiệp ngày càng đông đảo – dù là mức sống lay lắt không hơn con vật bao nhiêu.
Thị trường hàng tiêu dùng và thị trường lao động phình to vượt quá quy mô sản xuất của các phường hội truyền thống và điều đó khiến cho chế độ phường hội phải biến mất nhường chỗ cho công trường thủ công của chủ nghĩa tư bản. Thợ cả phường hội không đào tạo cho thợ học việc thành nghề nữa mà chỉ đào tạo số công đoạn chuyên biệt trong quá trình sản xuất. Nhằm giảm tiền công cũng như chi phí đào tạo và tận dụng đội quân vô sản thất nghiệp đông đảo vốn chỉ là lao động phổ thông, thợ cả cũng thay đổi quy trình sản xuất, chia thành nhiều công đoạn càng đơn giản càng tốt để cho người không có nghề cũng có thể làm được – và đương nhiên người này sẽ ăn lương thấp hơn nhiều so với thợ lành nghề. Việc bãi bỏ chế độ sản xuất cá thể, phân tán vừa khiến thợ cả bóc lột thật nhiều lao động thặng dư của thợ phụ và vô sản làm thuê, đồng thời cũng giúp tăng hiệu suất, tốc độ làm việc. Và chính trên cái nền tảng công trường thủ công đó thì việc thay thế tay chân bằng máy móc, tức là cách mạng công nghiệp, mới ra đời. Các bạn có thể đọc thêm về vấn đề này trong chương 14 https://www.marxists.org/archive/marx/works/1867-c1/ch14.htm và chương 15 của bộ Tư bản.
Đến đây mọi người có thể thấy các thay đổi căn bản của điều kiện kinh tế – xã hội đã tạo điều kiện cho cách mạng công nghiệp, việc sáng chế máy móc là kết quả của nhu cầu phát sinh do sự thay đổi đó, chúng được chế tạo phù hợp với điều kiện và nhu cầu có sẵn đó. Chứ không phải tự nhiên sáng chế ra cái máy thì phường hội phong kiến biến thành nhà máy xí nghiệp, tư duy như vậy là ngược với sự thật. Đành rằng phải có khoa học kỹ thuật, kỹ sư, nhà khoa học thì mới chế được máy, nhưng bản thân họ không làm ra cách mạng công nghiệp từ hư không. Những cái họ nghiên cứu và sáng chế phải giả định sự tồn tại của chế độ công nhân làm thuê của chủ nghĩa tư bản được định hướng để phục vụ cho chế độ công nhân làm thuê đó.
Các sách vở phương Tây hay mô tả việc tập trung sản xuất lớn kiểu tư bản hình thành từ phường hội thủ công, tức là thương nhân hay thợ cả tìm cách độc chiếm tư liệu sản xuất của phường hội và biến thợ thủ công thành công nhân làm thuê. Nhưng thể chế phường hội không dễ dàng bị phá huỷ như vậy. Các quy tắc của phường hội trong ngành len dạ ở Anh đến thế kỷ XVII còn rất mạnh và vì vậy cách mạng công nghiệp không khởi phát ở đây mặc dù nó là ngành phát đạt nhất ở Anh. Trái lại ngành bông vải mới nổi, phân tán ở nông thôn, ít có các quy chế phường hội, là nơi bùng nổ của cách mạng công nghiệp. Cách mạng trong phương thức sản xuất không tự nhiên bắt nguồn từ phường hội thủ công. Sự tồn tại của thợ thủ công giả định nền nông nghiệp phát triển đủ mạnh để nuôi sống lao động phi nông nghiệp, vì vậy phường hội thủ công phụ thuộc vào quan hệ sản xuất phong kiến và nó có phát triển đến đâu cũng không thoát khỏi cái ràng buộc đó. Trái lại, quan hệ sản xuất phong kiến tan rã đã giải phóng nó.
Ý THỨ BA: Máy hơi nước và “an ninh năng lượng” của cách mạng công nghiệp
Trong chương 15 của bộ Tư bản, Các Mác phân chia máy móc thành 3 bộ phận chính: động cơ, truyền động, và máy công cụ. Phần máy công cụ thực chất là công cụ của anh công nhân thủ công được cải biên, nó thực hiện đúng cái thao tác của anh công nhân bị máy móc thay thế, thứ thao tác đơn điệu lặp đã nói ở trên. Còn phần động cơ của máy móc có tác dụng biến năng lượng từ nguồn bên ngoài thành sức đẩy máy công cụ thực hiện thao tác. Trong các loại máy móc thô sơ bán tự động thì chính con người đảm nhiệm phần động cơ, ví dụ đạp chân hay quay bánh xe máy may, thao tác may do kim máy thực hiện. Và khi con người chỉ còn vai trò sức đẩy thì người ta có thể thay thế sức người bằng sức ngựa, sức nước, sức gió, sức của máy hơi nước, máy xăng dầu, máy điện, tức là cung cấp cho nó nguồn năng lượng khác để nó chạy tự động và thay thế vị trí của công nhân.
Máy móc thô sơ ban đầu sử dụng sức người, sức ngựa, sức gió hay sức nước. Nhưng điều đó khiến việc sản xuất lệ thuộc hoặc là vào giới hạn thể chất, hoặc vào vị trí địa lý (phải đặt nhà máy ở nơi có sông ngòi) và thời gian (mùa đông sông ngòi đóng băng là máy tịt); máy không thể chạy liên tục và chỉ hạn chế trong một số địa điểm vì nguồn cung năng lượng không đảm bảo. Đồng thời, gió và nước chảy nhanh chậm không thể khống chế được, vì vậy công suất máy móc khó chọn lựa theo ý mình. Thế rồi máy hơi nước ra đời như một bước ngoặt. Máy hơi nước giúp con người sử dụng được nguồn năng lượng từ than đá dồi dào, có thể vận chuyển và lưu trữ và sử dụng ở những nơi, những lúc không có gió và thác nước. Người ta cũng có thể ít nhiều chọn lựa công suất máy mà không phụ thuộc vào ông trời cái gió hay giới hạn thể chất sinh vật. Vì vậy nó giải phóng sản xuất khỏi sự chật hẹp về thể chất, điều kiện tự nhiên, địa lý và thời gian, mở rộng toàn diện quy mô công nghiệp hóa, giúp duy trì hệ thống sản xuất công nghiệp phát triển mạnh mẽ về thời gian, không gian và cường độ hoạt động. Chính việc giải phóng giới hạn công suất đã đặt tiền đề cho sự phát triển của công nghiệp nặng, mà Các Mác đã trình bày trong chương 15 của bộ Tư bản.
Vai trò bước ngoặt của máy hơi nước, cũng như các máy xăng dầu, máy điện nằm ở chỗ nó đảm bảo “an ninh năng lượng” cho đại công nghiệp và khả năng điều khiển công suất làm việc, nhờ đó công nghiệp phát triển mạnh mẽ về chiều rộng lẫn chiều sâu. Người ta nói an ninh năng lượng chứ không phải an ninh máy móc là như thế. Việc phân tích 3 bộ phận của máy móc như trên giúp ta hiểu vì sao máy hơi nước là biểu tượng của cách mạng công nghiệp.
Nhưng, như Các Mác đã nói, máy hơi nước không tự mình làm ra cách mạng công nghiệp. Chính thay đổi trong sản xuất đặt ra nhu cầu dùng máy hơi nước, được thiết kế theo hướng làm phần động cơ thay thế cho sức người, sức ngựa, sức nước… cho những máy công cụ có sẵn, trong chế độ công nhân làm thuê của chủ nghĩa tư bản, phục vụ cho nhu cầu tăng năng suất và mở rộng sản xuất của chủ nghĩa tư bản. Các nhà phát minh không quyết định lịch sử như Chúa Trời, mà nhu cầu phải có máy hơi nước là tất yếu khách quan và các nhà phát minh chỉ thực hiện nhiệm vụ khách quan của sự phát triển sản xuất.
Ý THỨ TƯ: Công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng
Một quan điểm hiện nay trên facebook, tương tự như trong hình, cho rằng cách mạng công nghiệp phải đi từ công nghiệp nặng, vì vậy họ cho rằng cách mạng công nghiệp ở Anh là sản phẩm tuyên truyền của phái công nghiệp nhẹ, phái những người “yêu cá, ghét thép, phá hoại công nghiệp và khoa học”. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng xây dựng công nghiệp nặng hiện đại, phát triển ở Việt Nam là điều cực kì cần thiết. Tôi cũng hoàn toàn phản đối những luận điệu bịa đặt của một số người thiếu lương thiện nói rằng không cần sản xuất thép vẫn sống tốt. Tuy nhiên, chuyện nào ra chuyện đó, việc bảo rằng cách mạng công nghiệp trước hết ở công nghiệp nặng là hoàn toàn xuyên tạc lộn ngược lịch sử.
Công nghiệp nhẹ là sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, còn công nghiệp nặng là sản xuất ra tư liệu sản xuất, ví dụ máy móc, vì vậy công nghiệp nặng giả định tồn tại nền sản xuất hàng tiêu dùng đủ mạnh để nuôi những người làm công nghiệp nặng, sản xuất hàng tiêu dùng yếu đuối mà nhào vào công nghiệp nặng ngay thì vỡ mồm. Cách mạng trong công nghiệp nặng cũng phải giả định tiên đề là nhu cầu tư liệu sản xuất rất lớn, tức là nền công nghiệp cơ khí đang mở rộng mạnh mẽ. Và để sản xuất lớn tư liệu sản xuất đòi hỏi cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật nhất định. Đối với nước Anh trong giai đoạn đầu chuyển mình từ công trường thủ công sang công trường máy tự động, không thể kiếm đâu ra một cơ sở sản xuất khủng như vậy và cũng không kiếm đâu ra một thị trường khủng như thế cho máy móc.
Trong cách mạng công nghiệp ở Anh, lịch sử cho thấy công nghiệp nhẹ đi trước công nghiệp nặng, con xe kéo sợi là khởi điểm của việc áp dụng đại trà máy móc cho sản xuất lớn, chứ không phải luyện thép hay chế súng. Trong thời gian chập chững đó, máy móc được chế tạo thủ công đúng nghĩa đen, bằng sự khéo tay và cơ bắp của thợ thủ công, chương 15 của bộ Tư bản đã trình bày chi tiết chuyện đó. Nhưng khi sản xuất bằng máy móc tăng trưởng mạnh lên nó nảy sinh nhu cầu lớn về số lượng cũng như chất lượng máy móc (kích thước, độ chính xác, độ phức tạp, nguyên liệu khó gia công…) vượt quá bắp thịt và bàn tay của thợ thủ công, lúc đó mới nảy sinh nhu cầu cách mạng công nghiệp nặng và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, định hướng nghiên cứu cho công nghiệp nặng. Máy hơi nước với công suất cực lớn và có thể chọn lựa được là một trong các tiền đề khoa học cho cách mạng công nghiệp nặng.
Và như một sự lặp lại của vòng xoắn lịch sử, phần máy công cụ trong công nghiệp nặng chính là các công cụ của người thợ thủ công, nhưng phóng to lên nhiều lần, được đẩy bởi một động cơ siêu khoẻ và có thể làm những việc mà không cơ bắp nào làm nổi.
Nhiều khi chúng ta bị tư duy ngược kiểu duy tâm, cho rằng một siêu thiên tài chế ra cái máy hay phát hiện ra bí mật của sắt thép thì lập tức nền sản xuất thủ công nhỏ lẻ biến thành đại công nghiệp máy móc. Sự thật thì ngược lại, nhu cầu và điều kiện khách quan của xã hội mới là động lực cho cách mạng công nghiệp và là động lực cho việc nghiên cứu phát minh khoa học để giải quyết nhu cầu khách quan đó. Nước Anh thế kỷ 18 đặt ra nhu cầu giải phóng sức sản xuất khỏi ràng buộc tự nhiên, ông Giêm Oát chế ra máy hơi nước để giải quyết nhu cầu đó. Sau đó xuất hiện nhu cầu sắm sửa thật nhiều máy móc để mở rộng công nghiệp, từ đó mới thúc đẩy cách mạng trong công nghiệp nặng. Lịch sử không diễn tiến theo kiểu một số anh hùng cái thế áp đặt ý chí của mình như Chúa Trời, mà các anh hùng được sinh ra để giải quyết nhiệm vụ khách quan của lịch sử.
Ý THỨ NĂM: các nhà kỹ trị đã trồng cây chuối như thế nào
Ở bài viết trước tôi đã đề cập đến một trường phái tạm gọi là kỹ thuật quyết định luận, trường phái này tôn sùng khoa học kỹ thuật và cho rằng sự phát triển khoa học kỹ thuật quyết định hết mọi diễn biến trong xã hội. Nhưng khoa học kỹ thuật không tự nhiên sinh ra mà là sản phẩm trực tiếp của giới trí thức và gắn liền với hình tượng giới học giả. Vậy là chủ nghĩa duy tâm lộ nguyên hình. Bản chất của trường phái kỹ thuật quyết định luận là nó biện hộ cho sự thống trị một dúm người “tinh hoa” lên trên xã hội, trường phái này cho rằng những người tinh hoa kiệt xuất là những kẻ quyết định nên lịch sử, họ nói như thế nào thì xã hội sẽ thay đổi thế đấy như Chúa Trời. Phần còn lại của xã hội không đáng quan tâm, chỉ là chó lợn liệt não cặn bã xã hội ngu ngốc, cứ im lặng mà bị xén lông giết thịt. Một số người trong đó xưng là môn đồ của Các Mác, xưng là bạn của người lao động, nhưng các luận điểm của họ không có chút gì lao động trong đó cả, mà chỉ biện họ cho một xã hội bất bình đẳng, phân biệt đẳng cấp, trong đó chỉ có những “lao động tinh hoa” như chủ doanh nghiệp (????) có quyền thống trị xã hội, còn nhân dân lao động thì chỉ im lặng mà vâng lời.
Ở đây không phủ nhận vai trò của các học giả và giới trí thức trong xã hội. Nhưng vấn đề ở đây giới trí thức không quyết định dòng chảy của lịch sử. Xã hội vận động theo các quy luật khách quan, đến một thời điểm nhất định phát sinh các nhu cầu cần có người giải quyết. Những cá nhân kiệt xuất nhìn thấy ít nhiều nhu cầu tất yếu đó và hợp tác với mọi người để xử lý nó, chứ không phải họ có quyền năng của Thượng Đế thích lịch sử đi theo chiều nào thì nó theo chiều nấy. Ông Giêm Oát chế máy hơi nước không phải vì ông ấy thích xã hội máy móc, mà vì nước Anh thế kỷ XVIII xuất hiện nhu cầu thay thế sức người, sức nước bằng một nguồn sức đẩy mạnh mẽ hơn, không bị khống chế bởi giới hạn tự nhiên. Không có ông Oát làm thì ông khác sẽ làm, nhu cầu khách quan của sản xuất cần có người chế máy hơi nước và các nhà khoa học hay kỹ sư phải nghiên cứu theo hướng đó. Ngược lại, trong một xã hội mà nhu cầu thay thế lao động thủ công bằng máy móc không gay gắt, thì cái máy hơi nước của ông Hêrông chỉ dùng để đóng mở đền thờ.
Chính là sự thay đổi trong điều kiện xã hội mà cụ thể là phương thức sản xuất đã quyết định sự thay đổi của những điều như giáo dục và nghiên cứu khoa học. Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì những điều đó cũng mang tính giai cấp. Trong xã hội phong kiến Á Đông, mấy ông móng tay dài học sách Nho hay làm thơ không phải vì các ông ấy thích thế, mà những cái đấy cần cho việc làm quan, tức là phục vụ cho tầng lớp thống trị là vua chúa phong kiến, bảo vệ cho trật tự và thể hiện tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến. Trong chủ nghĩa tư bản, thì các ngài học giả trí thức bị lột sạch vầng hào quang thần thánh, trở thành kẻ làm thuê cho giai cấp tư sản. Các nhà khoa học nghiên cứu phát minh đủ thứ, thì sản phẩm họ làm ra cũng bán cho các nhà tư bản đi kinh doanh, vì vậy họ phải định hướng nghiên cứu của mình để phục vụ cho lợi ích của các nhà tư bản. Máy móc do Giêm Oát, Têxưla hay Êđixơn chế ra đều giả định sự tồn tại của chế độ công nhân làm thuê và phục vụ cho các nhu cầu của chế độ đó, đem nó về thời phong kiến hay nô lệ thì nó là món đồ diễn xiếc ảo thuật không hơn không kém. Việc đào tạo, học hành được định hướng là tạo ra lực lượng lao động làm thuê cho chủ tư bản mà người ta hay nói một cách mỹ miều là “sinh viên ra trường có việc làm”. Một ông trùm tư bản thật thà đã diễn thuyết rằng, các bạn sinh viên hãy nghỉ học đi, các bạn học cho lắm vào cũng đi làm thuê làm mướn cho những thằng trọc phú chưa chắc có bằng cấp bằng các bạn. Sự thật cay đắng nó là như thế, các kỹ sư, các nhà khoa học đáng kính, chẳng qua chỉ là những con lừa đi kéo cối xay.
Chính vì thế mà chủ nghĩa Mác là cơn ác mộng đối với nhiều người trong giới trí thức, vì với góc nhìn duy vật biện chứng ông Mác đã chứng minh rằng các học giả đang trồng cây chuối trong tháp ngà tự kỷ của mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.