NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 1)
Nguồn: https://www.facebook.com/112827646815271/posts/180897226674979/
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta thường nhầm tưởng rằng phép duy vật biện chứng của Các Mác và Ph. Ăngghen là sự kết hợp giữa thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc và phép biện chứng của Hêghen. Trên thực tế điều đó không đúng. Bản thân Các Mác đã phủ nhận điều này và trong lời nói đầu tác phẩm “Tư bản” thì ông đã bảo phép biện chứng duy vật hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen. Còn Phơriđơrích Ăngghen thì nhận định rằng phép biện chứng của Hêghen chính là một thiên tài nhưng đi lộn đầu trồng cây chuối.
Cũng như vậy, Các Mác đã phê phán thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc vì nó tách xã hội loài người và giới tự nhiên ra làm hai cực đối lập, tách biệt giữa quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, tách biệt giữa tồn tại, duy nhất và thống nhất. Có thể thâý việc phê phán thế giới quan duy vật siêu hình mạnh nhất là trong tác phẩm “chống Đuyrinh” của Ph. Ăngghen.
Vậy thì phép biện chứng duy vật là gì và tại sao nó khác hoàn toàn với cả thế giới quan duy vật Phơbắc lẫn phép biện chứng Hêghen ? Câu trả lời cụ thể đó là việc phát hiện ra phép biện chứng duy vật là toàn bộ quá trình phát triển tư tưởng Các Mác và Ph. Ăngghen khi hai ông đi từng bước trong quá trình nhận thức và trưởng thành về hệ tư tưởng mà chúng tôi sẽ trình bày thành nhiều kỳ cho bạn đọc dễ hiểu trong các phần dưới đây.
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC: THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Để hiểu được phép duy vật biện chứng chúng ta cần hiểu được rằng tại sao Mác lại lựa chọn THẾ GIỚI QUAN duy vật và PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng. Nhưng trước hết chúng tôi xin mạn phép trình bày về hai khái niệm “thế giới quan” và “phương pháp luận”.
THẾ GIỚI QUAN là cách nhận thức thế giới của cá nhân hay xã hội loài người về giới tự nhiên, và thế giới quan duy vật là một mặt của thế giới quan triết học, nó hình thành ngay từ khi bắt đầu có triết học, tồn tại đối lập và thống nhất với thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy vật cho rằng giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức, thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người. Thế giới quan duy tâm cho rằng ý thức là cái có trước và ý thức sản sinh ra giới tự nhiên.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng là một trong hai phương pháp luận cơ bản của triết học. Phương pháp luận còn lại là siêu hình. Phương pháp luận dựa trên quá trình tư duy của con người và khác hoàn toàn với phương pháp nghiên cứu. Biện chứng là phương pháp luận xây dựng dựa trên nền tảng của sự vận động, tính thống nhất và tương tác giữa các sự vật và tính vô hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên. Còn siêu hình là là phương pháp luận dựa trên sự đứng yên, tính độc lập và tính hữu hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên.
Cả thế giới quan lẫn phương pháp luận đều được hình thành trước chủ nghĩa tư bản và không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.
III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC MÁC THỜI TRẺ
Các Mác và Ph. Ăngghen vào thời trẻ vẫn chưa đi theo phép duy vật biện chứng. Ban đầu cả hai ông là người duy tâm.
1. Nền tảng tư tưởng của Mác triết khi tiếp xúc với triết học.
Thời trẻ Các Mác là một trong những người ủng hộ phong trào tự do tư sản ở nước Phổ. Nguyên do là vì Các Mác chịu ảnh hưởng về tư tưởng từ bố đẻ và bố vợ của mình, hai cụ đều là những người đại diện cho giai cấp tư sản và đấu tranh chống chế độ vua chúa ở Phổ. Bố đẻ của Các Mác, cụ Hăngrích Mác, là một luật sư và ông đi theo tư tưởng triết học khai sáng của Pháp với tinh thần nhân đạo tư sản. Nền tảng của triết học khai sáng là tư tưởng tự do và phương pháp luận siêu hình, đặc biệt trong các vấn đề luật pháp. Điều này đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng triết học thời trẻ của Mác khi cụ Hăngrích định hướng cho Mác học luật.
Còn bố vợ của Mác, cụ Lútvích phôn Vétxphalen là một nhà quý tộc, cố vấn chính phủ và là người theo thuyết tự do tư sản. Cụ là người thứ hai ảnh hưởng đến nền tảng triết học của Mác, bản thân việc đi học của Mác ban đầu hướng tới việc trở thành một viên chức nhà nước để xây dựng chính sách pháp luật hơn là trở thành một nhà cách mạng. Cụ Vétxphalen cũng giúp Mác tìm hiểu về các vấn đề xã hội và con người, sự khác biệt về giàu nghèo giữa các giai cấp trong xã hội và truyền cho Mác tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Chính vì vậy, trong bài luận văn tốt nghiệp trung học “Những suy nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề” của Các Mác đã thể hiện hai yếu tố rất rõ ràng. Thứ nhất: ông đề cập đến mối quan hệ xã hội giữa cá nhân và cộng đồng, khẳng định rằng cá nhân là một phần không thể tách rời khỏi cộng đồng. Đặc biệt việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân lại là kết quả và ảnh hưởng ngược lại đến các xu hướng xã hội.. Thứ hai: Mác đề cập đến tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng và nhân đạo kiểu Pháp, trong đó ông xây dựng một nhân sinh quan của cuộc đời mình dựa trên chủ nghĩa nhân đạo cao cả.
2. Sự từ bỏ phương pháp luận siêu hình để đến với phương pháp luận biện chứng.
Không có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên trong thời gian học đại học, Các Mác đã từ bỏ phương pháp luận siêu hình. Dấu hiệu đầu tiên đó là Mác từ bỏ việc học ở đại học Bon mà chuyển đến đại học Béclin. Các kiến thức về luật học ở Bon không đáp ứng được với yêu cầu của Mác thời trẻ, đặc biệt là khi phong trào tự do tư sản đang phát triển mạnh mẽ ở nước Đức. Ông cảm thấy mất hứng thú với môn luật ở đây, nơi mà tư duy siêu hình đang thống trị.
Nhưng ngành luật ở Béclin cũng không đáp ứng được nhu cầu của Mác. Ông bỏ ngành luật và chuyển sang toán học cũng như khoa học tự nhiên, trong đó toán học là một trong những môn học đòi hỏi tính logic siêu hình rất rõ nét. Một thời gian sau Mác cũng từ bỏ ngành toán và bắt đầu thử sức với triết học, đặc biệt là triết học biện chứng của Hêghen. Sự khác biệt giữa đại học Béclin và đại học Bon đó là tại Béclin thì tư tưởng của nhà triết học Hêghen đã thống trị từ ông giảng dạy ở đây từ năm 1818 - 1831. Các môn đồ của Hêghen vẫn tiếp tục giảng dậy ở trường đại học Béclin trong nhiều chuyên ngành quan trọng.
Đến thời điểm này Mác vẫn là một nhà triết học duy tâm chịu ảnh hưởng của Căngtơ, Hêghen và chủ nghĩa khai sáng của Vônte. Mác tham gia “câu lạc bộ Tiến sĩ”, nơi tụ hội của một trường phái những người đi theo phép biện chứng Hêghen gọi là “phái Hêghen trẻ”. Đại diện nổi bật nhất của phái này là Brunô Bauơ. Đây cũng là bước chuyển cho thấy Mác từ bỏ phương pháp luận siêu hình và đến hẳn với phương pháp luận biện chứng. Chính vì vậy Mác đã đề cập đến vấn đề biện chứng ngay trong luận án tiến sĩ của mình với tiêu đề “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Democritus và triết học tự nhiên của Epicurus nói chung”. Bên cạnh đó Mác cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng về hệ thống nhà nước pháp quyền của trường phái Hêghen trong những năm tháng học tại trường đại học.
Có điều triết học duy tâm biện chứng của Hêghen mà cụ thể đó là phương pháp luận biện chứng của Hêghen lại hàm chứa những mâu thuẫn. Thứ nhất triết học Hêghen cho rằng mọi thứ đều là sự vận động của một “ý niệm tuyệt đối”, và hình thái cao nhất của “ý niệm tuyệt đối” lại là nhà nước pháp quyền Phổ. Tuy nhiên nói vậy phải chăng khi đạt được đến nhà nước pháp quyền Phổ thì mọi sự vận động đều không còn vận động nữa ?
Thứ hai nếu “ý niệm tuyệt đối” là sự quyết định mọi quy luật vận động thì vai trò của loài người trong quá trình nhận thức như thế nào. Nếu việc nhận thức giới tự nhiên chỉ là việc nhận thức “ý niệm tuyệt đối” vậy các ngành khoa học lúc đó có cần vận động nữa không ?
Thứ ba, về bản chất “ý niệm tuyệt đối” thật ra không khác gì với các khái niệm như “chúa trời”, “thượng đế”, vậy xét đến cùng triết học của Hêghen chỉ là một bản sao của kinh Thánh với phép biện chứng vận động trong một khuôn khổ được “ý niệm tuyệt đối” cho phép, như vậy các quy luật vận động của giới tự nhiên là do “ý niệm tuyệt đối” quyết định và người nào đó nhận thức được “ý niệm tuyệt đối” tức anh ta sẽ không còn chịu ảnh hưởng của quy luật tự nhiên nữa.
Đây chính là những mâu thuẫn buộc Mác không ngừng vận động, phê phán chính bản thân mình để từ bỏ triết học duy tâm của Hêghen. Đối với Mác việc tiếp thu phép biện chứng của Hegel đồng thời cũng tiếp thu luôn cả tinh thần phê phán của phép biện chứng và tự phê phán đối với bản thân.
NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 2)
IV. MẪU THUẪN VỀ HỆ TƯ TƯỞNG VÀ LOGIC TRONG TRIẾT HỌC DUY TÂM BIỆN CHỨNG CỦA HÊGHEN
Khi Mác việc tiếp thu phép biện chứng của Hêghen đồng thời Mác cũng tiếp thu luôn cả tinh thần phê phán của phép biện chứng và tự phê phán đối với bản thân. Nhờ đó Mác đã tìm ra những điểm mâu thuẫn trong phép biện chứng của Hêghen.
Về cơ bản, Hêghen coi mọi sự vận động của chế độ xã hội hay lịch sử loại người là quá trình vận động liên tục của “tư tưởng tuyệt đối”. Thế giới vật chất chỉ được xem như một loại phản ánh của “tư tưởng tuyệt đối” này. Sự vận động và biến đối thường xuyên của “tư tưởng tuyệt đối” gọi là “biện chứng” và sự vận động này kết thúc khi tư tưởng đạt đến mức tự nhận thức. Tư tưởng của mỗi con người cũng chỉ là một biểu hiện của một “tư tưởng tuyệt đối”; và vào thời đại của Hêghen, tư tưởng cá nhân đã nhận thức được mức tự nhận thức được tư tưởng tuyệt đối. Hình thái cao nhất của tư tưởng tuyệt đối chính là hình thái nhà nước pháp quyền Phổ mà Hêghen đề xuất.
Tuy nhiên có thể thấy “tư tưởng tuyệt đối” thật ra chính là một hình thái khác của “Chúa trời”, và việc tự nhận thức tư tưởng bản thân với “tư tưởng tuyệt đối” cũng có nghĩa là coi tư tưởng của mình nhận thức ra mình là Chúa trời, ở điểm này Hêghen lại là một người duy tâm chủ quan. Đây là tính siêu hình trong phép biện chứng của Hêghen đồng thời là vật cản ngăn không cho phép biện chứng phát triển tiếp tục cùng với sự vận động của xã hội loài người.
Đồng thời, khi nói rằng hình thái cao nhất của “tư tưởng tuyệt đối” là nhà nước pháp quyền Phổ hay là thời đại mà Hêghen đang sinh sống, vậy thì tư tưởng tuyệt đối từ đó về sau không còn vận động và biến đổi nữa, tức là mọi nhận thức phía sau thời kỳ của Hêghen đều là sai lầm và mọi môn khoa học đều không còn cần thiết và phát triển nữa. Rõ ràng điều này là vô lý.
Ngoài ra, việc nhận thức “tư tưởng tuyệt đối” và tư tưởng cá nhân hàm ý nói rằng chỉ có những môn đồ của Hêghen tôn vinh phép biện chứng mới nhận thức được; những người này sẽ trở thành những tinh hoa dẫn dắt xã hội loại người phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Như vậy lịch sử xã hội loại người thực chất được dẫn dắt bởi tư tưởng của những người từ thuở sơ khai luôn đi tìm về với “tư tưởng tuyệt đối” giống như các con chiên ngoan đạo tìm về với Chúa trời. Điều đó có nghĩa là lịch sử xã hội loài người chẳng qua chỉ là quá trình tìm kiếm “tư tưởng tuyệt đối” và do “tư tưởng tuyệt đối” tạo nên lịch sử xã hội loài người. Các hoạt động sản xuất, quản lý xã hội, nghiên cứu khoa học v…v… hoá ra đều là vô nghĩa. Điều này cũng hoàn toàn vô lý nốt.
Ba điều trên là những điểm mâu thuẫn mà Các Mác đã nhìn thấy trong triết học Hêghen. Rõ ràng nếu hình thái cao nhất của “tư tưởng tuyệt đối” là Nhà nước pháp quyền Phổ là thì tại sao dưới cái nhà nước Phổ đó người ta vẫn đang phải đấu tranh cho những quyền tiến bộ như quyền tự do kinh doanh, quyền tự do đi lại và kết hôn giống như những gì bố đẻ và bố vợ của Mác vẫn đang đấu tranh cho người dân Phổ ?
Các Mác luôn luôn đặt ra một câu hỏi là tại sao xã hội với đa số người lao động, những người tạo ra của cải vật chất cho xã hội lại luôn có cuộc sống bần cùng nghèo khổ và bị bóc lột, và ngay từ đầu tư tưởng và hành động của Các Mác luôn hướng tới bênh vực cho những người lao động bị bóc lột và bức hiếp. Điều này đã được thể hiện rõ ràng trong các bài báo đầu tay của Mác tại tờ Tạp chí sông Ranh như: “Bàn về đạo luật cấm nhặt củi rừng” - “Dự thảo về đạo luật li hôn”.
Từ đó, Các Mác bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và Mác bắt đầu viết tác phẩm: “Phê phán triết học pháp quyền Hêghen” như là tác phẩm đầu tay để phê phán cái gọi là hình thái cao nhất của Tư tưởng tuyệt đối, tức là nhà nước pháp quyền Phổ. Mác đã phê phán các nguyên lý của triết học pháp quyền và trong lời nói đầu của tác phẩm, ông đã chỉ ra rằng sự phê phán tôn giáo của triết học pháp quyền Hêghen, đặc biệt là đối với những bạn bè cũ trong phái “Hêghen trẻ”, thực chất chỉ là một sự phê phán hời hợt, phi thực tế trong một xã hội khổ đau và không có ý nghĩa gì cả. Sự phê phán cao nhất chính là phê phán triết học mà cụ thể là triết học pháp quyền. Như vậy ở tác phẩm này Mác đã chỉ ra được mâu thuẫn đầu tiên trong phép biện chứng của Hêghen đó là cưỡng ép cho mọi thứ ngừng vận động khi đạt đến Nhà nước pháp quyền.
Tác phẩm thứ hai đánh dấu sự từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen đó là tác phẩm Gia đình Thần thánh (hay Phê phán sự phê phán có tính phê phán) được Mác và Ph. Ăngghen cùng viết năm 1844, ở tác phẩm này Mác và Ph. Ăngghen đã đưa ra một luận điểm cực kỳ cơ bản của lịch sử mang tính duy vật: đó là chính quần chúng nhân dân và nhân dân lao động mới là những người tạo nên lịch sử chứ không phải là những tầng lớp tinh hoa hay cá nhân kiệt xuất tạo nên lịch sử. Tác phẩm này đánh thẳng vào tư tưởng của những người theo phái Hêghen trẻ khi tự coi mình là những người dẫn dắt xã hội và quần chúng nhân dân lao động chỉ là thành phần đáng thương hại của lịch sử xã hội loài người. Bằng cách này Mác và Ph. Ăngghen đã thêm một bước nữa phủ định chủ nghĩa duy tâm của Hêghen theo hướng phủ nhận "tư tưởng tuyệt đối" dẫn dắt lịch sử.
Tác phẩm thứ ba đánh dấu sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm Hêghen là tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, cũng do Mác và Ph. Ăngghen cùng viết. Hai ông đã chỉ ra những sản phẩm của tư tưởng con người, từ triết học, văn hóa, pháp quyền v…v… đều là những sản phẩm không có lịch sử và không tự vận động, sự thay đổi của những thứ này thực chất gắn liền với đời sống lao động sản xuất vật chất của xã hội loài người hay chính là quá trình trao đổi chất giữa con người và giới tự nhiên và nó chỉ là hình ảnh phản chiếu của quá trình lao động sản xuất vật chất của lịch sử loài người. Bằng tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ph. Ăngghen đã chấm dứt hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, đồng thời giải quyết triệt để các mâu thuẫn về tư tưởng và logic trong phép biện chứng của Hêghen với 3 câu trả lời như sau:
- Thứ nhất: Nhà nước pháp quyền Phổ không phải là hình thái cuối cùng trong lịch sử, xã hội loài người luôn vận động sẽ phủ nhận nhà nước Phổ và thay thế nó bằng thứ khác. Quá trình vận động và biện chứng không dừng lại mà vẫn tiếp tục diễn ra theo chuỗi thời gian và không gian vô tận; chừng nào còn sự vận động thì vẫn còn thời gian và không gian. Điều này cũng phá vỡ tính duy tâm thần bí và tính siêu hình cản trở sự phát triển của phép biện chứng Hêghen.
- Thứ hai: Chính quần chúng nhân dân mới là người tạo nên lịch sử phát triển của xã hội loài người chứ không phải là tầng lớp tinh hoa hay cá nhân kiệt xuất lãnh đạo xã hội. Bí mật duy tâm của Hêghen thực chất chỉ là cái vỏ bọc bảo vệ địa vị giai cấp của Hêghen và những người có đặc quyền trong nhà nước pháp quyền Phổ.
- Thứ ba: Lịch sử của xã hội loài người không phải là quá trình vận động của Tư tưởng tuyệt đối như Hêghen nói, trái lại nó là quá trình vận động của việc sản xuất vật chất của xã hội loài người hay quá trình trao đổi chất giữa con người và giới tự nhiên. Và tư tưởng tuyệt đối hay tư tưởng cá nhân đều chỉ là hình ảnh phản ánh của quá trình sản xuất vật chất của loài người thôi. Vấn đề của Hêghen là ông suy diễn ngược quan hệ giữa cái vận động thật và cái hình ảnh phán ánh. Chính vì vậy Hêghen không tìm ra được hình thái phát triển cao hơn của Nhà nước pháp quyền Phổ bởi tư tưởng của Hêghen là sản phẩm của lịch sử chứ không phải lịch sử, nó chỉ phản ánh đúng xã hội thời kỳ mà ông đang sống và ông ngộ nhận rằng đó là hình thái cao nhất.
Đến đây Mác và Ph. Ăngghen đã kết luận Hêghen là một thiên tài đi lộn đầu, phép biện chứng của Hêghen là một thành quả thiên tài nhưng nó bị giới hạn lại bởi chính tính duy tâm thần bí. Kết quả của phép biện chứng duy tâm cuối cùng lại trở thành phép siêu hình duy tâm và đó là lý do Hêghen được mô tả là một thiên tài nhưng đi lộn ngược đầu.
Status này có nội dung đăng tải kỳ 3 và cũng là kỳ cuối của loạt bài về nguồn gốc và sự hình thành của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật. Một lần nữa, Ban biên tập của Đồng Minh Những Người Cộng Sản rất cảm ơn sự đóng góp nhiệt tình của các tác giả cũng như luôn hoan nghênh các thảo luận và đóng góp mang tính xây dựng của bạn đọc.
Bạn đọc có thể xem các kỳ 1 và kỳ 2 của loạt bài trong các đường link dưới đây.
Kỳ 1: https://www.facebook.com/dongminhnhungnguoicongsan/photos/a.118019156296120/180895553341813/
Kỳ 2: https://www.facebook.com/dongminhnhungnguoicongsan/photos/a.118019156296120/181578533273515/
==o0o==
NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 3)
V. SỰ HOÀN THIỆN CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ PHÁT TRIỂN LÊN THÀNH DUY VẬT LỊCH SỬ
Ở phần cuối cùng này, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu vì sao và làm thế nào Mác và Ph. Ăngghen đã hoàn thiện được phép duy vật biện chứng và phát triển thành chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trước hết cần phải nói ngay rằng, chủ nghĩa duy vật biện chứng KHÔNG PHẢI là "sản phẩm chủ quan" của Các Mác và Ph. Ăngghen như một số kẻ xấu tính hay xuyên tạc, nó là quy luật vận động khách quan của thế giới được Các Mác và Ph. Ăngghen khám phá ra. Giống như định luật vạn vật hấp dẫn không phải là “chủ quan của Niutơn”, nó là quy luật khách quan của vũ trụ còn ông Niutơn là người tìm thấy nó. Điều này sẽ được giải thích ở phần cuối bài viết. Cả cuộc đời Mác có hai lý thuyết được coi là phát hiện của ông với tư cách là một nhà khoa học, đó là: “Học thuyết giá trị thặng dư” và “Chủ nghĩa duy vật lịch sử”.
Trước hết chúng ta sẽ đọc qua một số đoạn trích sau, đầu tiên là lời tựa năm 1885 của Ăngghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”
“Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử. … Đúng vào giữa quá trình lột xác ấy, tôi đã phải nghiên cứu cái gọi là triết học tự nhiên của ông Đuy-rinh. Vì vậy, nếu như trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, lý thuyết, đôi khi tôi không tìm được thuật ngữ chính xác và nói chung đã diễn đạt còn khá nặng nề, thì đó là điều hoàn toàn tự nhiên. Nhưng mặt khác, việc ý thức được rằng mình chưa nắm vững vật liệu đã khiến tôi thận trọng; sẽ không ai có thể vạch ra được những sự lầm lẫn thực sự của tôi về những sự kiện đã biết hồi đó, cũng như những điều sai lệch trong việc trình bày những lý thuyết đã được công nhận hồi đó. Về mặt này, chỉ có một nhà toán học lớn chưa được thừa nhận viết thư cho Mác, phàn nàn rằng tôi đã dám táo gan xúc phạm đến danh dự của căn bậc hai của -1.
Lẽ dĩ nhiên, khi tôi tổng kết những thành tựu của toán học và khoa học tự nhiên như vậy thì vấn đề cũng là để thông qua những cái riêng, thấy rõ thêm cái chân lý mà nói chung tôi đã không nghi ngờ chút nào cả, cụ thể là: cũng những quy luật biện chứng ấy của sự vận động, chi phối tính ngẫu nhiên bề ngoài của sự kiện ngay cả trong lịch sử, đang mở đường cho mình trong giới tự nhiên thông qua sự hỗn độn của vô số biến đổi; cũng những quy luật ấy, những quy luật như sợi chỉ đỏ xuyên qua cả lịch sử phát triển của tư duy loài người, đang dần dần đi vào ý thức của con người tư duy: đó là những quy luật mà Hêghen lần đầu tiên đã phát triển một cách bao quát, nhưng dưới một hình thức thần bí, và một trong những nguyện vọng của chúng tôi là tách những quy luật đó ra khỏi cái vỏ thân bí ấy và trình bày chúng một cách rõ ràng với tất cả tính đơn giản và tính phổ biến của chúng. Lẽ dĩ nhiên là nề triết học tự nhiên cũ - dầu có chứa đựng nhiều điều tốt thật sự và nhiều mầm mống có sức đâm chồi nảy lộc như thế nào chăng nữa[ - vẫn không thể thoả mãn được chúng ta. Như đã được trình bày tường tận hơn trong tác phẩm này, khuyết điểm của nền triết học tự nhiên ấy, nhất là dưới hình thức của Hêghen, là ở chỗ không thừa nhận sự phát triển trong thời gian, "nối tiếp nhau" của thế giới tự nhiên, mà chỉ thừa nhận sự tồn tại của "cái nọ bên cạnh cái kia". Sở dĩ như thế một mặt là do bản thân hệ thống của Hegel chỉ thừa nhận có sự phát triển lịch sử của "tinh thần", nhưng mặt khác cũng là do tình trạng chung của khoa học tự nhiên thời ấy. Như vậy là trong trường hợp này, Hegel đã thụt lùi lại xa đằng sau Kant là người, với thuyết tinh vân của mình, đã tuyên bố sự phát sinh của hệ thống mặt trời, và với việc phát hiện ra tác dụng kìm hãm của thuỷ triều đối với sự quay của trái đất, cũng đã tuyên bố sự tiêu vong của hệ thống ấy[7]. Sau cùng, vấn đề đối với tôi không thể là đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên.
….. Tuy nhiên, cũng có thể là tiến bộ của khoa học tự nhiên lý thuyết sẽ làm cho đại bộ phận hoặc toàn bộ công trình của tôi trở thành thừa, bởi vì chỉ một sự cần thiết phải sắp xếp lại những phát hiện thuần tuý có tính chất kinh nghiệm, đã chất đống lại rất nhiều, cũng buộc nhà kinh nghiệm chủ nghĩa ngoan cố nhất phải ngày càng nhận thức được tính chất biện chứng của các quá trình tự nhiên. Những sự đối lập cứng nhắc cũ, những ranh giới dứt khoát và không thể vượt qua được ngày càng biến mất. Từ khi biến được bản thân những chất khí "thật" cuối cùng thành chất lỏng, trong đó hình thức giọt và hình thức khí là không phân biệt, thì những trạng thái kết tụ đã mất hết mọi tàn dư cuối cùng của tính tuyệt đối trước kia của chúng. …. Nhận thức cho rừng trong giới tự nhiên, cố nhiên là có những sự đối lập và khác biệt ấy, nhưng chỉ có với một ý nghĩa tương đối mà thôi, rằng trái lại, tính bất động tưởng tượng và giá trị tuyệt đối của chúng là do sự suy nghĩ của chúng ta đưa vào giới tự nhiên mà thôi - nhận thức đó là thực chất quan niệm biện chứng về giới tự nhiên. Người ta có thể đạt đến quan niệm biện chứng do đó những sự kiện thực tế đang tích luỹ lại của khoa học tự nhiên bắt buộc; nhưng người ta có thể đạt tới nó một cách dễ dàng hơn nếu đưa nhận thức về những quy luật của tư duy biện chứng vào việc tìm hiểu tính chất biện chứng của những sự kiện ấy. Dù sao, khoa học tự nhiên cũng đã tiến xa đến mức nó không thể tránh được sự tổng hợp biện chứng được. Nhưng nó sẽ thực hiện được sự tổng hợp ấy một cách dễ dàng hơn nếu nó không quên rằng kết quả trong đó những kinh nghiệm của nó được khái quát, là những khái niệm; rằng nghệ thuật vận dụng những khái niệm không phải bẩn sinh mà có, cũng không phải là do ý thức bình thường hàng ngày đem lại, mà đòi hỏi một tư duy thực sự, tư duy này có một lịch sử kinh nghiệm lâu dài, cũng lâu dài như lịch sử nghiên cứu hoa học tự nhiên có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa. Chỉ có khi nào khoa học tự nhiên học tập tiếp thu được những kết quả của hai nghìn năm trăm năm phát triển của triết học thì nó mới có thể, một mặt, thoát khỏi mọi thứ triết học tự nhiên đứng tách riêng, đứng ngoài và đứng trên nó, và mặt khác, thoát khỏi cái phương pháp tư duy hạn chế của chính nó, do chủ nghĩa kinh nghiệm Anh để lại.”
Tiếp theo là một đoạn trích trong tác phẩm “Biện chứng tự nhiên” mà Ăngghen đã tổng kết như sau:
“Sau khi mà một mặt, sự phản ứng chống lại "triết học tự nhiên" - sự phản ứng dựa phần lớn vào điểm xuất phát sai lầm ấy và sự sa đoạ không cứu vãn nổi của phái Hê-ghen Béc-lin - đã hết sức điên cuồng và rốt cuộc đã biến thành những lời chửi rủa; sau khi mà mặt khác, chủ nghĩa siêu hình chiết trung thông thường đã làm cho khoa học tự nhiên bị chặn đứng lại một cách tuyệt vọng trong những yêu cầu về lý luận của nó, - thì chắc hẳn là trước mắt các nhà khoa học tự nhiên, ta lại có thể nhắc đến tên Hê-ghen mà không gây ra cái bệnh sài giật mà ông Đuy-rinh mắc phải một cách rất đáng buồn cười.
Trước hết, cần phải nhận rằng đây hoàn toàn không phải là bênh vực quan điểm xuất phát của Hê-ghen mà theo đó tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm. Điều ấy bị Phoi-ơ-bắc vứt bỏ rồi. Tất cả chúng ta đều đồng ý với nhau rằng trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào, trong lĩnh vực tự nhiên cũng như trong lĩnh vực lịch sử phải xuất phát từ những sự kiện đã có, do đó trong khoa học tự nhiên, phải xuất phát từ những hình thái hiện thực khác nhau và những hình thái vận động khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học tự nhiên lý thuyết, chúng ta không thể cấu tạo ra những mối liên hệ để ghép chúng vào sự kiện, mà phải từ các sự kiện đó phát hiện ra mối liên hệ ấy và một khi đã phát hiện ra các mối liên hệ ấy rồi thì phải hết sức chứng minh những mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm.
Cũng không thể nói là phải duy trì cái nội dung giáo điều của hệ thống Hê-ghen, như cái phái Hê-ghen già và trẻ ở Béc-lin đã hô hào. Điểm xuất phát duy tâm đó sụp đổ thì cái hệ thống xây dựng trên điểm xuất phát ấy, do đó cả triết học tự nhiên của Hê-ghen nói riêng cũng sụp đổ theo. Nhưng cũng cần phải nhắc lại rằng, cuộc tranh luận của khoa học tự nhiên chống lại Hê-ghen, trong chừng mực mà nói chung nó hiểu Hê-ghen một cách đúng đắn, thì chỉ nhằm chống lại hai điểm: điểm xuất phát duy tâm và việc dựng nên một hệ thống một cách tuỳ tiện và trái với các sự kiện.
Sau khi loại bỏ tất cả cái đó ra, thì còn lại phép biện chứng của Hê-ghen. Khác với "đám hậu sinh càu nhàu, kiêu căng và tầm thường đang đóng vai trò lãnh đạo trong giới có học thức ở Đức", công lao của Mác là ở chỗ ông là người đầu tiên đã phục hồi lại phương pháp biện chứng đã bị bỏ quên, nêu rõ những mối quan hệ và sự khác nhau của phương pháp đó với phép biện chứng của Hê-ghen, và đồng thời, trong bộ "Tư bản", ông đã áp dụng phương pháp đó vào những sự kiện của một khoa học thực nghiệm xác định, khoa kinh tế chính trị. Ông đã thành công đến mức là ngày nay, nếu phái kinh tế học hiện đại ở nước Đức mà hơn được phái mậu dịch tự do tầm thường thì cũng là nhờ đã mượn cớ phê phán Mác để sao chép lại Mác (thường thường lại sao khá sai).
Trong phép biện chứng cũng như trong tất cả bộ môn khác của hệ thống Hê-ghen, cũng có một sự đảo ngược của các mối quan hệ hiện thực. Nhưng, như Mác đã vạch rõ: "Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hê-ghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hê-ghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hê-ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó.” (Bài tựa cũ trong cuốn chống Duyring về Phép Biện chứng dùng làm bài tựa trong tác phẩm Biện Chứng của Tự Nhiên)
Từ hai lời dẫn trong các tác phẩm trên chúng ta có thể đi đến ba kết luận sau:
Thứ nhất là, khoa học tự nhiên, nền tảng của triết học Phơbắc, ở bị giới hạn bởi phép siêu hình về mặt lý luận. Người ta thường nghiên cứu khoa học tự nhiên một cách nhỏ lẻ, rời rạc mà không thấy được tình vận động của khoa học tự nhiên, điều này làm cho khoa học tự nhiên bị thống trị bởi chủ nghĩa kinh nghiệm Anh và triết học duy vật thô sơ tầm thường.
Thứ hai là, Hêghen là người đầu tiên trình bày phép biện chứng dưới dạng lý thuyết hóa. Tuy nhiên Hêghen không nhìn thấy sự vận động của thế giới vật chất với ý thức chính là hình ảnh phản ánh sự vận động của vật chất. Hêghen đã nhìn nhận ngược, cho rằng ý thức là vận động và thế giới vật chất là phản ánh sự vận động của ý thức.
Thứ ba là, các hệ thống triết học cũ tách biệt giữa ý thức và vật chất, giữa tinh thần và tồn tại với tư cách là hai mặt đối lập và phủ định lẫn nhau nhưng không nhìn ra được mối quan hệ thống nhất giữa ý thức và vật chất cũng như sự liên kết không thể tách rời được. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm của triết học cũ thật ra chỉ là sản phẩm của ý thức thể hiện sự vận động của lịch sử. Trong đó sự phủ định lẫn nhau của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm chính là quá trình phủ định lẫn nhau của sự vận động thế giới vật chất được trình bày qua ý thức của con người.
Vì vậy cuối cùng Ăngghen đã khẳng định rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là sản phẩm ý thức của con người, đây là điểm mà Mác và Ph. Ăngghen đã gián tiếp phủ định lại Hêghen và Phơbắc. Ngược lại, phép biện chứng duy vật chính là quá trình vận động trực tiếp của thế giới vật chất. Việc áp dụng phép duy vật biện chứng trong khoa học thực chất chỉ là dùng ý thức để nhìn nhận thế giới vật chất dựa trên sự vận động của phép biện chứng. Vì thế phép biện chứng duy vật mà Mác và Ph. Ăngghen phát hiện ra là một sản phẩm của giới tự nhiên hay nói chính xác chính là sự vận động có tình phổ biến, phát triển, liên tục, không ngừng của thế giới vật chất và nó độc lập với ý thức, thậm chí tác động ngược lại quyết định ý thức. Phép biện chứng duy vật KHÔNG PHẢI là “sản phẩm chủ quan” của Mác, cũng như định luận vạn vật hấp dẫn không phải là “chủ quan” của Niutơn, hay thuyết tiến hoá và nguyên lý di truyền học không phải là “chủ quan” của Đácuyn, Menđen hay Móócgăng hay là “chủ quan” của các nhà khoa học nghiên cứu về di truyền tiến hoá.
Từ đó Mác và Ph. Ăngghen dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tìm ra sự vận động của xã hội loài người dựa trên quá trình phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất (bao gồm: sự tương tác của con người với thế giới vật chất là LLSX và sự tương tác giữa con người với nhau là QHSX). Đó chính là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, Mác áp dụng phép duy vật biện chứng vào trong cuốn Tư Bản Luận để chỉ ra chủ nghĩa tư bản cũng chỉ là một trong các hình thái trong vận động xã hội loài người, chủ nghĩa tư bản chắc chắn sẽ bị phủ định và thay thế bởi vì nó không thể vượt ra ngoài quy luật duy vật lịch sử và sự vận động của phép duy vật biện chứng. Tất nhiên là các học giả tư sản và các nhà tư bản không thích thú gì mấy với sự thật này và luôn tìm mọi cách để nguỵ biện và xuyên tạc.
Cuối cùng đến đây triết học duy vật biện chứng không còn là triết học nữa, trái lại, chính triết học mới lần đầu tiên tìm đến được sự vận động của thế giới vật chất và đang phản ánh lại dưới dạng triết học này hay triết học khác. Và khi thế giới vật chất thay đổi theo đúng phép duy vật biện chứng thì triết học với tư cách là cái phản ánh cũng phải thay đổi theo, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội với vai trò tương tự như vậy cũng sẽ thay đổi như vậy.
Cuối cùng như Lênin đã khẳng định, con người ta không thể nhận thức chân lý tuyệt đối mà chỉ tìm thấy dấu vết của nó qua các chân lý tương đối, nhận thức tiệm cận với chân lý tuyệt đối, giống như một bức ảnh có thể chụp ảnh chính xác giới tự nhiên nhưng vẫn bị giới hạn bởi cái viền ảnh (tức giới hạn bởi không gian và thời gian). Mác và Ph. Ăngghen đã trình bày phép biện chứng duy vật với tư cách tổng hợp những gì chung nhất và chứng minh sự vận động biện chứng duy vật của giới tự nhiên trong thời đại của hai ông nhưng đó không phải là tất cả phép biện chứng duy vật bởi sự vận động là không ngừng và con người ta các thế hệ sau sẽ nhận thức không ngừng phép biện chứng duy vật thông qua các sự vận động của thế giới vật chất bởi những giới hạn của lịch sử trong từng thời kỳ.
Đến đây Mác và Ph. Ăngghen cũng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ mà người ta cho triết học là "khoa học nhận thức được toàn bộ thế giới", hay triết học là "khoa học của mọi khoa học". Với tư cách là sản phẩm của ý thức, triết học không thể làm được một việc bất khả thi như vậy. Và điều này đúng khi khoa học vẫn luôn không ngừng phát triển và thay đổi triết học. Các quan điểm cho rằng triết học là “khoa học tối cao nhận thức thế giới” (Hêghen) hay triết học là “khoa học của mọi khoa học” (Phơbắc) đã sụp đổ. Ăngghen đã phân tích vấn đề này trong một tác phẩm cuối đời của mình là “Lútvích Phơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. (Ludwig Feuerbach and the End of Classical German Philosophy)
Người viết hy vọng rằng qua bài viết nhỏ này, bạn đọc có thể nhìn thấy được rằng, những tác phẩm mà Mác và Ph. Ăngghen viết theo thời gian chính là sự vận động, hình thành và trưởng thành tư tưởng của hai ông cùng với sự vận động của bối cảnh lịch sử hai người. Đồng thời, trong khi chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phơbắc và chủ nghĩa duy tâm biện chứng của Hêghen đều là sản phẩm của ý thức và sản phẩm của lịch sử, thì chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất chính là sự vận động khách quan của thế giới vật chất, được Mác và Ph. Ăngghen tìm ra và trình bày lại dưới ngôn ngữ dễ hiểu, sinh động để cho mọi người đọc có thể quan sát và cảm nhận lại. Chủ nghĩa duy vật biện chứng KHÔNG phải là sản phẩm của lịch sử mà trái lại nó tạo nên lịch sử thông qua sự vận động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.