Status này được dùng để đăng tải lại một số bài viết và comment trong nhóm Chủ nghĩa Xã hội khoa học, fanpage của Đồng Minh những người cộng sản. Thể theo yêu cầu và cũng được sự đồng ý của các tác giả, chúng tôi sẽ đăng bài viết này dưới dạng khuyết danh, và có hiệu đính lại một chút nội dung.
Để tìm hiểu thêm về chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, bạn đọc có thể tham khảo thêm hai tác phẩm do Phơriđơrích Ăngghen biên soạn. Thứ nhất là “Lútvích Phơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. (Ludwig Feuerbach and the End of Classical German Philosophy) Thứ hai là “chống Đuyrinh”. (Anti-Duhring) Hai tác phẩm này có thể được đọc miễn phí rộng rãi trên mạng. Chúng tôi luôn khuyến khích độc giả chủ động học hỏi nâng cao kiến thức và trình độ, cũng như rất biết ơn những con người thầm lặng chủ động chia sẻ kiến thức cho xã hội mà không đòi hỏi gì.
===o0o===
NGUỒN GỐC PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG (KỲ 1)
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta thường nhầm tưởng rằng phép duy vật biện chứng của Các Mác và Ph. Ăngghen là sự kết hợp giữa thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc và phép biện chứng của Hêghen. Trên thực tế điều đó không đúng. Bản thân Các Mác đã phủ nhận điều này và trong lời nói đầu tác phẩm “Tư bản” thì ông đã bảo phép biện chứng duy vật hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen. Còn Phơriđơrích Ăngghen thì nhận định rằng phép biện chứng của Hêghen chính là một thiên tài nhưng đi lộn đầu trồng cây chuối.
Cũng như vậy, Các Mác đã phê phán thế giới quan duy vật của Lútvích Phơbắc vì nó tách xã hội loài người và giới tự nhiên ra làm hai cực đối lập, tách biệt giữa quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, tách biệt giữa tồn tại, duy nhất và thống nhất. Có thể thâý việc phê phán thế giới quan duy vật siêu hình mạnh nhất là trong tác phẩm “chống Đuyrinh” của Ph. Ăngghen.
Vậy thì phép biện chứng duy vật là gì và tại sao nó khác hoàn toàn với cả thế giới quan duy vật Phơbắc lẫn phép biện chứng Hêghen ? Câu trả lời cụ thể đó là việc phát hiện ra phép biện chứng duy vật là toàn bộ quá trình phát triển tư tưởng Các Mác và Ph. Ăngghen khi hai ông đi từng bước trong quá trình nhận thức và trưởng thành về hệ tư tưởng mà chúng tôi sẽ trình bày thành nhiều kỳ cho bạn đọc dễ hiểu trong các phần dưới đây.
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG TRIẾT HỌC: THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Để hiểu được phép duy vật biện chứng chúng ta cần hiểu được rằng tại sao Mác lại lựa chọn THẾ GIỚI QUAN duy vật và PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng. Nhưng trước hết chúng tôi xin mạn phép trình bày về hai khái niệm “thế giới quan” và “phương pháp luận”.
THẾ GIỚI QUAN là cách nhận thức thế giới của cá nhân hay xã hội loài người về giới tự nhiên, và thế giới quan duy vật là một mặt của thế giới quan triết học, nó hình thành ngay từ khi bắt đầu có triết học, tồn tại đối lập và thống nhất với thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy vật cho rằng giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, cái quyết định ý thức, thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người. Thế giới quan duy tâm cho rằng ý thức là cái có trước và ý thức sản sinh ra giới tự nhiên.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN biện chứng là một trong hai phương pháp luận cơ bản của triết học. Phương pháp luận còn lại là siêu hình. Phương pháp luận dựa trên quá trình tư duy của con người và khác hoàn toàn với phương pháp nghiên cứu. Biện chứng là phương pháp luận xây dựng dựa trên nền tảng của sự vận động, tính thống nhất và tương tác giữa các sự vật và tính vô hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên. Còn siêu hình là là phương pháp luận dựa trên sự đứng yên, tính độc lập và tính hữu hạn của thời gian, không gian cũng như giới tự nhiên.
Cả thế giới quan lẫn phương pháp luận đều được hình thành trước chủ nghĩa tư bản và không phải là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản.
III. NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC MÁC THỜI TRẺ
Các Mác và Ph. Ăngghen vào thời trẻ vẫn chưa đi theo phép duy vật biện chứng. Ban đầu cả hai ông là người duy tâm.
1. Nền tảng tư tưởng của Mác triết khi tiếp xúc với triết học.
Thời trẻ Các Mác là một trong những người ủng hộ phong trào tự do tư sản ở nước Phổ. Nguyên do là vì Các Mác chịu ảnh hưởng về tư tưởng từ bố đẻ và bố vợ của mình, hai cụ đều là những người đại diện cho giai cấp tư sản và đấu tranh chống chế độ vua chúa ở Phổ. Bố đẻ của Các Mác, cụ Hăngrích Mác, là một luật sư và ông đi theo tư tưởng triết học khai sáng của Pháp với tinh thần nhân đạo tư sản. Nền tảng của triết học khai sáng là tư tưởng tự do và phương pháp luận siêu hình, đặc biệt trong các vấn đề luật pháp. Điều này đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng triết học thời trẻ của Mác khi cụ Hăngrích định hướng cho Mác học luật.
Còn bố vợ của Mác, cụ Lútvích phôn Vétxphalen là một nhà quý tộc, cố vấn chính phủ và là người theo thuyết tự do tư sản. Cụ là người thứ hai ảnh hưởng đến nền tảng triết học của Mác, bản thân việc đi học của Mác ban đầu hướng tới việc trở thành một viên chức nhà nước để xây dựng chính sách pháp luật hơn là trở thành một nhà cách mạng. Cụ Vétxphalen cũng giúp Mác tìm hiểu về các vấn đề xã hội và con người, sự khác biệt về giàu nghèo giữa các giai cấp trong xã hội và truyền cho Mác tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Chính vì vậy, trong bài luận văn tốt nghiệp trung học “Những suy nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề” của Các Mác đã thể hiện hai yếu tố rất rõ ràng. Thứ nhất: ông đề cập đến mối quan hệ xã hội giữa cá nhân và cộng đồng, khẳng định rằng cá nhân là một phần không thể tách rời khỏi cộng đồng. Đặc biệt việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân lại là kết quả và ảnh hưởng ngược lại đến các xu hướng xã hội.. Thứ hai: Mác đề cập đến tinh thần chủ nghĩa xã hội không tưởng và nhân đạo kiểu Pháp, trong đó ông xây dựng một nhân sinh quan của cuộc đời mình dựa trên chủ nghĩa nhân đạo cao cả.
2. Sự từ bỏ phương pháp luận siêu hình để đến với phương pháp luận biện chứng.
Không có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên trong thời gian học đại học, Các Mác đã từ bỏ phương pháp luận siêu hình. Dấu hiệu đầu tiên đó là Mác từ bỏ việc học ở đại học Bon mà chuyển đến đại học Béclin. Các kiến thức về luật học ở Bon không đáp ứng được với yêu cầu của Mác thời trẻ, đặc biệt là khi phong trào tự do tư sản đang phát triển mạnh mẽ ở nước Đức. Ông cảm thấy mất hứng thú với môn luật ở đây, nơi mà tư duy siêu hình đang thống trị.
Nhưng ngành luật ở Béclin cũng không đáp ứng được nhu cầu của Mác. Ông bỏ ngành luật và chuyển sang toán học cũng như khoa học tự nhiên, trong đó toán học là một trong những môn học đòi hỏi tính logic siêu hình rất rõ nét. Một thời gian sau Mác cũng từ bỏ ngành toán và bắt đầu thử sức với triết học, đặc biệt là triết học biện chứng của Hêghen. Sự khác biệt giữa đại học Béclin và đại học Bon đó là tại Béclin thì tư tưởng của nhà triết học Hêghen đã thống trị từ ông giảng dạy ở đây từ năm 1818 - 1831. Các môn đồ của Hêghen vẫn tiếp tục giảng dậy ở trường đại học Béclin trong nhiều chuyên ngành quan trọng.
Đến thời điểm này Mác vẫn là một nhà triết học duy tâm chịu ảnh hưởng của Căngtơ, Hêghen và chủ nghĩa khai sáng của Vônte. Mác tham gia “câu lạc bộ Tiến sĩ”, nơi tụ hội của một trường phái những người đi theo phép biện chứng Hêghen gọi là “phái Hêghen trẻ”. Đại diện nổi bật nhất của phái này là Brunô Bauơ. Đây cũng là bước chuyển cho thấy Mác từ bỏ phương pháp luận siêu hình và đến hẳn với phương pháp luận biện chứng. Chính vì vậy Mác đã đề cập đến vấn đề biện chứng ngay trong luận án tiến sĩ của mình với tiêu đề “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Democritus và triết học tự nhiên của Epicurus nói chung”. Bên cạnh đó Mác cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng về hệ thống nhà nước pháp quyền của trường phái Hêghen trong những năm tháng học tại trường đại học.
Có điều triết học duy tâm biện chứng của Hêghen mà cụ thể đó là phương pháp luận biện chứng của Hêghen lại hàm chứa những mâu thuẫn. Thứ nhất triết học Hêghen cho rằng mọi thứ đều là sự vận động của một “ý niệm tuyệt đối”, và hình thái cao nhất của “ý niệm tuyệt đối” lại là nhà nước pháp quyền Phổ. Tuy nhiên nói vậy phải chăng khi đạt được đến nhà nước pháp quyền Phổ thì mọi sự vận động đều không còn vận động nữa ?
Thứ hai nếu “ý niệm tuyệt đối” là sự quyết định mọi quy luật vận động thì vai trò của loài người trong quá trình nhận thức như thế nào. Nếu việc nhận thức giới tự nhiên chỉ là việc nhận thức “ý niệm tuyệt đối” vậy các ngành khoa học lúc đó có cần vận động nữa không ?
Thứ ba, về bản chất “ý niệm tuyệt đối” thật ra không khác gì với các khái niệm như “chúa trời”, “thượng đế”, vậy xét đến cùng triết học của Hêghen chỉ là một bản sao của kinh Thánh với phép biện chứng vận động trong một khuôn khổ được “ý niệm tuyệt đối” cho phép, như vậy các quy luật vận động của giới tự nhiên là do “ý niệm tuyệt đối” quyết định và người nào đó nhận thức được “ý niệm tuyệt đối” tức anh ta sẽ không còn chịu ảnh hưởng của quy luật tự nhiên nữa.
Đây chính là những mâu thuẫn buộc Mác không ngừng vận động, phê phán chính bản thân mình để từ bỏ triết học duy tâm của Hêghen. Đối với Mác việc tiếp thu phép biện chứng của Hegel đồng thời cũng tiếp thu luôn cả tinh thần phê phán của phép biện chứng và tự phê phán đối với bản thân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.