Huấn luyện tân binh trong Chiến tranh Việt Nam: Cách đào tạo đồ tể (Phần 1)
Phần lớn lính Mỹ tòng quân tại Việt Nam đều là thiếu niên hoặc chỉ vừa qua độ tuổi đó. Dù họ đi theo dạng quân dịch hoặc tình nguyện (thường để tránh sự bất ổn của chế độ quân dịch), khi bắt đầu huấn luyện họ đều là những chàng trai mới lớn.
Trải nghiệm huấn luyện tân binh được thiết kế nhằm mục đích đưa tâm lý của các tân binh về trạng thái giống như thời thơ ấu. Mười tám năm học hỏi trước đó hoặc lâu hơn của họ phải bị tước bỏ đi thông qua sốc, sự tách biệt với người khác, căng thẳng về thể chất và tâm lý; thông qua đó đầu óc của các tân binh sẽ trở thành một trang giấy trắng để bắt đầu nhồi nhét tư tưởng nhà binh. Trong suốt tám tuần, mười bảy giờ một ngày, các tân binh trải qua một cuộc sống được quy định đến mọi chi tiết, họ phải học lại cách cư xử cho đúng kiểu quân đội, tất cả đều bị giám sát nghiêm ngặt bởi quyền lực tối cao của sĩ quan huấn luyện. Nhà sử học Joanna Bourke có nói, sự kết hợp khéo léo của “sự diệt trừ tính cá nhân, đồng phục, thiếu riêng tư, các mối quan hệ xã hội bắt buộc, lịch sinh hoạt dày đặc, thiếu ngủ, sự mất phương hướng khi phải sống cuộc đời mới theo những quy tắc quân sự, những quy định độc đoán và sự trừng phạt nghiêm khắc” được áp dụng để thực hiện hành công nhiệm vụ này.
Phạt lính thường xuyên rất quan trọng đối với quá trình này, dù là hình phạt cho những vi phạm đơn giản như không xưng hô đúng cách với thượng cấp. Sự trừng phạt bao gồm nhục mạ nhân phẩm và hành hạ thể xác, từ việc bị ép ăn rác đến tập luyện đến mức ngất xỉu. Đồng thời, chỉ riêng việc huấn luyện mỗi ngày thổi là đã đủ để coi là một trải nghiệm đau đớn. Ngay cả những vận động viên xuất sắc nhất cũng thường kiệt sức trước các bài tập luyện nặng nhọc. “Hoàn toàn kiệt sức”, nhà sử học Christian Appy chỉ ra rằng, “là một nhân tố quan trọng giải thích vì sao các tân binh sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh” vì họ sớm “học được rằng rằng bất tuân lệnh dưới bất kỳ hình thức nào chỉ mang lại nhiều đau đớn hơn”.
Các tân binh cũng được nhồi sọ một nền văn hóa chứa đầy bạo lực và sự tàn nhẫn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự sẵn sàng chém giết không thương tiếc. Như nhiều người lính khác, người lính quân dịch thời kỳ Chiến tranh Việt Nam Peter Milord cho Appy rằng lúc đầu, ông chỉ hô vang những lời ca bạo lực trong lúc huấn luyện sự. “Giết! Giết!Giết! Giết không thương tiếc là tinh thần lưỡi lê!” Nhưng càng về sau ông càng thấy mình bị nhiễm những tư tưởng tàn bạo này. “Tôi không trở thành một con người máy”, Mil Milord nói, “nhưng có lúc tôi gần giống như vậy, kinh hoàng lắm”. Một cựu chiến binh khác nói thế này: “Suốt mười một tháng, tôi được huấn luyện cách giết chóc. Suốt tám tuần, trong các bài huấn luyện cơ bản, tôi hét lên ‘giết, giết’. Vậy là khi đến Việt Nam, tôi đã sẵn sàng để giết”. Một cựu chiến binh khác nói với tôi rằng sau khi hô vang “giết, giết, giết” trong các bài huấn luyện cơ bản, huấn luyện chiến đấu bộ binh nâng cao và tuần tra trinh sát tầm xa, ông cảm thấy hoàn toàn bị “tẩy não”.
Sự giết chóc không thương xót càng được củng cố thêm bởi sự phân biệt chủng tộc trắng trợn tràn lan trong quá trình huấn luyện. Cựu chiến binh Wayne Smith nhớ lại, “Sĩ quan huấn luyện không bao giờ gọi người Việt Nam là ‘người Việt’. Thay vào đó, họ gọi là lũ ngu si, mọi vàng, bọn gù, mắt xếch, thú ăn gạo, tất cả những tên gọi gạt bỏ đi tính con người… Bọn họ không phải là con người, đó rõ ràng là thông điệp”. Tương tự, cựu chiến binh Haywood Kirkland đã mô tả trải nghiệm của ông như thế này.
Ngay khi [anh] bước chân vào trại huấn luyện, họ cố gắng thay đổi toàn bộ tính cách của anh. Họ bảo chúng tôi ngay lập tức là đừng gọi họ là người Việt. Gọi họ là mọi vàng, lũ ngu si. Họ nói với chúng tôi là khi Việt Nam thì sẽ đối mặt với Charlie, Việt Cộng. Chúng giống như súc vật hoặc một thứ gì đó không phải là con người. Không ai cho phép bạn được nói về chúng như thể chúng là người. Không được thương xót chúng. Họ nói với chúng tôi rằng họ không được đối xử với bất kỳ loại lòng thương xót nào. Đó là những gì được khắc sâu vào trong anh. Bản năng giết chóc.
Thái độ này được củng cố một khi những người lính đến Việt nam. Nhiều người nhớ lại họ ngay lập tức được chỉ thị rằng dù cho chính sách trên giấy tờ có nói gì thì cũng không được tin người Việt Nam, rằng ngay cả phụ nữ và trẻ nhỏ cũng có thể là kẻ thù - một thái độ không lành trong một cuộc chiến được rêu rao là nhằm bảo vệ dân thường Việt Nam khỏi sự xâm lược của cộng sản. Lính Mỹ tin rằng một đứa trẻ cũng có thể ném lựu đạn hoặc buộc chất nổ quanh mình. Một người phụ nữ lớn tuổi có thể làm bẫy tự chế. Mặc dù sách báo của quân đội Mỹ dành vào những người lính sắp đến Việt Nam nhấn mạnh rằng cần phân biệt giữa thường dân và du kích, một số ấn phẩm lại gợi ý rằng bất cứ ai đội nón lá hoặc mặc áo bà ba đen đều có thể là quân địch.
Một cựu binh nói với tôi rằng khóa huấn luyện của anh ấy đã nói rõ rằng “kẻ địch là bất cứ ai có mắt xếch sống trong làng. Dù là phụ nữ hay trẻ em cũng vậy”. Một sĩ quan đã tóm tắt quan điểm phổ biến lúc ấy như sau: “Ừ thì có vài phụ nữ và trẻ em bị giết… Dạy cho chúng một bài học nhớ đời. Chúng đều là VC hoặc ít nhất cũng là có giúp đỡ… Anh không thể cảm hóa chúng đâu, chỉ giết chúng thôi”.
Việc ra lệnh giết dân thường không vũ trang là bất hợp pháp, dù họ ủng hộ ai trong cuộc chiến. Nhưng các mệnh lệnh trái luật không phải là hiếm, và binh lính nên phản ứng thế nào với chúng thường không rõ ràng. Trong trại huấn luyện hoặc khi hướng dẫn thực chiến, nhiều người lính thường được dạy một bài học ngắn, khoảng một giờ, về luật chiến tranh, nhưng kiến thức này lại rất ít so với hàng tuần rèn luyện chém giết.
Hơn nữa, khóa huấn luyện căn bản nhấn mạnh rằng sự vâng lời các chỉ huy có tầm quan trọng bậc nhất. Một cha tuyên úy sẽ thường nói như sau: “Người lính tự do nhất là người lính sẵn sàng phục tùng chính quyền. Dựa vào khái niệm danh dự và lợi ích cá nhân, cha tuyên úy sẽ nói với các tân binh rằng: “Khi con tuân thủ một mệnh lệnh hợp pháp, con không cần phải sợ hãi, cũng không phải lo lắng”. Tuy nhiên, định nghĩa thế nào là một mệnh lệnh “không hợp pháp” thì không ai cho biết, và các tân binh bị buộc phải tuân lệnh mù quáng. Họ cũng không được đào tạo chuyên sâu về trách nhiệm và các khía cạnh đạo đức trong một cuộc chiến tranh du kích ở những ngôi làng đầy dân thường.
(Lược trích từ cuốn sách "Kill anything that moves: The real American War in Vietnam" của Nick Turse)
Ảnh: Đội trưởng Mỹ cứu dân thường Việt Nam khỏi lính Mỹ


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.