Các độc giả thân mến.
Gần đây chúng ta có thể nhận thấy Đảng và Nhà nước đang tiến hành cuộc đấu tranh tham nhũng vô cùng quyết liệt với hàng loạt các vụ tham nhũng trọng điểm đã được đưa ra xét xử và những cá nhân “nhúng chàm” đều bị xử lý kỷ luật, bắt giam và khởi tố. Tham nhũng được ví như “quốc nạn”, như “giặc nội xâm”, và nạn tham nhũng cùng tệ quan liêu được Đảng chỉ ra là một trong “bốn nguy cơ” cùng với tụt hậu kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, và diễn biến hoà bình. Sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong công tác chống tham nhũng, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ to lớn của dư luận. Chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh vô cùng lâu dài và quyết liệt, và cũng là cuộc đấu tranh có tầm quan trọng mật thiết đối với Đảng và Nhà nước bởi vì nó liên quan đến sự tồn vong của chế độ.
Vì vậy trong status này, Đồng Minh Những Người Cộng Sản mạn phép đăng bài viết của bạn đọc Tống Công Minh phân tích về bản chất giai cấp của nạn tham nhũng thời kì hiện đại cùng các nguy cơ đe doạ đến quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ tầm quan trọng của cuộc chiến chống tham nhũng cũng như mối hiểm hoạ vô cùng to lớn của nạn tham nhũng đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì bài viết rất dài, chúng tôi mạn phép chia bài viết thành 4 kỳ để đăng dần và có một số tuỳ chỉnh về câu chữ, lời lẽ so với bản gốc. Những thay đổi nhỏ này đã được sự đồng ý của tác giả Tống Công Minh. Xin cảm ơn sự đóng góp to lớn của các bạn đọc.
Kỳ 1: Định nghĩa về tham nhũng. Bản chất của Nhà nước và vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản
Kỳ 2: Mối đe doạ của “tầng lớp đặc quyền” đối với chế độ
Kỳ 3: Các loại hình tham nhũng và bản chất giai cấp của tham nhũng
Kỳ 4: Các vi phạm về kỷ luật Đảng có liên quan đến tham nhũng. Phát huy tập trung dân chủ trong Đảng là cần thiết để phòng chống tham nhũng.
===o0o===
Kỳ 1: Định nghĩa về tham nhũng. Bản chất của Nhà nước và vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản
Theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là “hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.” “Nhũng nhiễu” là hành vi “cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. “Vụ lợi” là “lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng”.
Các hành vi tham nhũng bao gồm “Tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi, giả mạo trong công tác vì vụ lợi, đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi, nhũng nhiễu vì vụ lợi, không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.”
Như vậy, tham nhũng chính là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn và nhiệm vụ được giao để trục lợi riêng. Tuy nhiên, tham nhũng thời hiện đại có sự khác biệt to lớn so với tham nhũng thời phong kiến, hay đối với cách hiểu nôm na thường thấy của dư luận về tham nhũng. Tham nhũng thời phong kiến là việc các quan chức trong bộ máy nhà nước vơ vét tài sản để làm giàu bất chính và có cuộc sống xa hoa. Cuộc chiến tham nhũng trong chế độ phong kiến về bản chất là để gia đình, dòng họ của vua có thể giữ được quyền lực hoàng tộc của bản thân mình, và để cũng như đảm bảo cho địa vị và quyền lực của Nhà nước phong kiến. Ví dụ như ngăn chặn sự thất thoát của cải, thuế má, ngân sách của nhà nước vào túi riêng của một số quan chức hay địa chủ, nhà giàu cá thể, và cũng để xoa dịu sự bất mãn của quần chúng đối với quan chức phong kiến. Những cuộc khởi nghĩa nông dân chỉ làm thay đổi các vương triều phong kiến, vương triều mới lên thay thế sẽ nương nhẹ chính sách thuế khoá, trừng phạt quan tham ô lại để đảm bảo cho cuộc sống của người dân và quyền lực nhà nước, còn bản chất chế độ chính trị phong kiến vẫn không hề thay đổi.
Còn tham nhũng trong bối cảnh hiện nay không chỉ làm suy yếu Đảng và Nhà nước mà về bản chất tham nhũng còn chính là cuộc đấu tranh giai cấp ở trong Đảng và Nhà nước, cụ thể là cuộc đấu tranh giữa một bên là giai cấp tư sản lớn mạnh về kinh tế và mong muốn áp đặt quyền lực nhà nước lên xã hội, bên kia giai cấp vô sản ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền chuyên chính vô sản. Để hiểu rõ điều đó, phần đầu tiên của bài viết này sẽ bàn sơ qua một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác Lênin về bản chất của nhà nước và vai trò của nhà nước chuyên chính vô sản.
Bản chất của Nhà nước.
1. Bản chất và sự ra đời của Nhà nước.
Khi nói về bản chất Nhà nước, Lênin trong tác phẩm Nhà nước và Cách mạng đã đưa ra khái niệm của Nhà nước theo lý luận của Mác và Ăngghen như sau: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mẫu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được.” (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 9 – NXB Chính trị quốc gia) Từ khái niệm trên của Lênin chúng ta có thể rút ra hai kết luận cơ bản của Nhà nước đó là:
- Nhà nước chỉ xuất hiện trong những điều kiện lịch sử cụ thể của một xã hội nhất định mà cụ thể ở đây là sản phẩm của xã hội có giai cấp.
- Sự tồn tại của Nhà nước chứng tỏ rằng do những mâu thuẫn giai cấp ở trong xã hội đó không thể điều hòa được nhưng Nhà nước lại không xuất hiện dưới vai trò là cơ quan điều hòa mâu thuẫn giai cấp ở trong xã hội.
Theo Lênin, Ăngghen đã phát triển khái niệm nhà nước như sau: “phát triển khái niệm về cái ʺlực lượngʺ gọi là nhà nước ấy, lực lượng nảy sinh từ xã hội, nhưng lại tự đặt mình lên trên xã hội và ngày càng trở nên xa lạ với xã hội. Lực lượng ấy chủ yếu là gì? Là những đội vũ trang đặc biệt, trong tay có những nhà tù, v.v.” (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 12 – NXB Chính trị quốc gia)
Như vậy có thể thấy Nhà nước có hai đặc điểm chính:
(i) Nhà nước là lực lượng nảy sinh từ xã hội nhưng lại đặt mình lên trên xã hội và ngày càng trở nên xa lạ với xã hội.
(ii) Lực lượng chủ yếu của Nhà nước chính là những đội vũ trang đặc biệt và trong tay có những nhà tù.
Từ các đặc điểm của Nhà nước, lý luận Mác Lênin đã đi đến kết luận về vai trò của Nhà nước là: "Vì nhà nước xuất hiện từ sự cần thiết phải kiềm chế sự đối lập giữa các giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng xuất hiện chính trong những cuộc xung đột giữa các giai cấp ấy, cho nên theo quy luật chung, nó là nhà nước của giai cấp mạnh nhất, giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế, và nhờ có nhà nước, giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để trấn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức." (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 16 – NXB Chính trị quốc gia)
Từ kết luận Ăngghen đã được Lênin tổng kết lại, ta có thể thấy vai trò của Nhà nước chính là công cụ để trấn áp giai cấp và là đại diện cho giai cấp mạnh nhất giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế để giai cấp này trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị.
2. Vai trò của Nhà nước chuyên chính vô sản.
Khi phân tích lý luận của Ăngghen về Nhà nước, Lênin đã chỉ ra những đặc điểm chính của Nhà nước chuyên chính vô sản như sau:
Thứ nhất: Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến những tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu của nhà nước. Nhưng như vậy, giai cấp vô sản cũng tự thủ tiêu mình với tính cách là giai cấp vô sản, thủ tiêu hết thảy mọi sự khác biệt giai cấp và mọi sự đối lập giai cấp, đồng thời thủ tiêu cả nhà nước với tính cách là nhà nước. (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 20 – NXB Chính trị quốc gia)
Thứ hai: Nhà nước là một ʺlực lượng đặc biệt để trấn ápʺ. Định nghĩa tài tình và cực kỳ sâu sắc ấy của Ăng‐ghen được nêu ra ở đây hết sức rõ. Từ định nghĩa đó rút ra kết luận là ʺlực lượng đặc biệt để trấn ápʺ ấy của giai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản, của một nhóm người giàu có đối với hàng triệu người lao động, phải được thay thế bằng một ʺlực lượng đặc biệt để trấn ápʺ của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản (chuyên chính vô sản). (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 23 – NXB Chính trị quốc gia)
Như vậy có thể thấy Nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước của giai cấp vô sản được dựng lên thay thế cho Nhà nước tư sản thông qua một cuộc bạo lực cách mạng. Khi thành lập Nhà nước chuyên chính vô sản thì giai cấp vô sản cũng thực hiện biến những tư liệu sản xuất trước hết trở thành sở hữu Nhà nước, trước khi thực hiện công hữu tư liệu sản xuất. Đồng thời vai trò của Nhà nước chuyên chính cũng là bộ máy trấn áp của giai cấp vô sản trước nỗ lực vươn lên trở thành địa vị thống trị về mặt chính trị của giai cấp tư sản trong thời kỳ quá độ.
Và trong thời kỳ quá độ, Nhà nước chuyên chính vô sản cũng nắm giữ một lượng tư liệu sản xuất khổng lồ dưới hình thức sở hữu Nhà nước hoặc Nhà nước đại diện quản lý để làm bước đệm cho việc công hữu tư liệu sản xuất cho các Xô viết trong quá trình phát triển. Đây là sự thống trị về mặt kinh tế của giai cấp vô sản dưới hình thức nắm giữ những tư liệu sản xuất quan trọng nhất mà cụ thể là: đất đai và hệ thống các tập đoàn nhà nước.
Trước khi phân tích về tính đặc quyền của Nhà nước, chúng ta hãy đến với một lý giải của Lênin về đặc quyền nhà nước và việc trao quyền quản lý nhà nước vào tay nhân dân:
“Nhưng ở đây, bộ máy trấn áp là đa số dân chúng, chứ không phải là thiểu số như đã có từ trước tới nay dưới chế độ nô lệ, chế độ nông nô và chế độ nô lệ làm thuê. Mà một khi chính đa số nhân dân đã tự mình trấn áp những kẻ áp bức mình, thì không còn cần phải có một ʺlực lượng đặc biệtʺ để trấn áp nữa! Theo nghĩa đó, nhà nước bắt đầu tiêu vong. Đa số nhân dân tự mình có thể trực tiếp hoàn thành những nhiệm vụ ấy, chứ không cần đến những cơ quan đặc biệt của một thiểu số có đặc quyền (các viên chức có đặc quyền, các viên chỉ huy quân đội thường trực), và những chức năng của chính quyền nhà nước càng do toàn dân làm lấy, thì chính quyền đó lại càng trở nên ít cần thiết hơn.” (Lê-nin toàn tập – tập 33 – Trang 52-53 – NXB Chính trị quốc gia)
Lênin đã cho chúng ta thấy vai trò của chuyên chính vô sản đó là trao càng nhiều quyền lực vào trong tay nhân dân càng tốt, phải biến nhân dân thành những người có khả năng tự quản lý xã hội và đảm nhận các nhiệm vụ của Nhà nước, từ đó Nhà nước sẽ ngày càng thu gọn và sẽ giảm bớt các cơ quan đặc biệt gắn với một thiểu số có đặc quyền. Điều đó cũng có nghĩa rằng, còn tồn tại một nhà nước càng lớn thì chắc chắn càng sẽ tạo nên những thiểu số đặc quyền trong Nhà nước. Thiểu số này sẽ lợi dụng các quyền lực của Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng cho mình và dần dần trở thành giai cấp thống trị. Điều đó càng khẳng định rằng, Nhà nước chuyên chính vô sản chỉ là kiểu “nửa Nhà nước”, khi mà quyền quản lý xã hội ngày càng được trao cho nhân dân nhiều hơn và sự dân chủ mở rộng nhiều hơn so với các hình thái Nhà nước trước đó. Nhân dân ở đây theo Lênin chính là giai cấp công – nông, và như vậy các lực lượng vũ trang, trấn áp đặc biệt sẽ ngày càng bị thay thế bởi chính sự vũ trang cho nhân dân.
Nguồn: https://www.facebook.com/112827646815271/posts/315145759916791/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.