(Nhân dịp 75 năm ngày Mỹ chính thức thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản, 06/08/1945 – 06/08/2020)
__________
Đến đầu năm 1945, khi ấy cả nước Nhật rệu rã, Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã không còn khả năng thực hiện một chiến dịch quân sự nào nữa, nó báo hiệu một cuộc tiến công của quân Đồng Minh vào lãnh thổ Nhật Bản sắp sửa diễn ra.
Người Nhật còn chút hi vọng vào Đạo quân Quan Đông gồm hàng triệu người, là đạo quân mạnh nhất trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, đã từng khiến Mỹ và các Đồng minh e dè. Tuy nhiên, do sự đầu tư của Nhật Bản trước Thế chiến II chủ yếu tập trung cho Hải quân và Không quân khiến cho đạo quân Quan Đông trang bị yếu kém, nhất là về sức mạnh tăng thiết giáp. Chính vì điều này, xét về tương quan trang bị, dù cho có ý chí chiến đấu đến điên cuồng thế nào chăng nữa, năng lực của đội quân này không thể là đối thủ của Hồng quân đang hừng hực khí thế. Đến cuối tháng năm 1945, đạo quân Quan Đông mặc dù kiên trì kháng cự Hồng quân Liên Xô nhưng sự sụp đổ của đạo quân này chỉ còn là vấn đề thời gian.
Với sự tham gia của Liên Xô cùng những chiến thắng như chẻ tre trước đó, Hội đồng chiến tranh tối cao của Nhật Bản đã kết luận: có thể đánh một trận quyết định chống lại một đại cường quốc tiến công từ một hướng, song không thể nào đánh lui hai đại cường quốc tiến công từ hai hướng khác nhau. Trong một cuộc họp của Hội đồng Tối cao vào tháng 6 năm 1945, họ đã nói rằng sự tham gia của Liên Xô vào cuộc chiến “sẽ quyết định số phận của cả Đế quốc”. Cũng trong cuộc họp đó, Phó Tổng Tham mưu Lục quân Kawabe đã nói rằng “Duy trì tuyệt đối hòa bình trong quan hệ của chúng ta với Liên Xô là hết sức quan trọng nếu muốn tiếp tục cuộc chiến”. Tức là với người Nhật, chiến dịch Mãn Châu của Liên Xô đã làm tan biến mọi hy vọng kháng cự của Nhật Bản.
Thế là đạo quân Quan Đông được lênh “quyết chiến tới cùng” và công khai thể hiện điều này, nguyên nhân giới lãnh đạo Nhật Bản (tức Hội đồng Chiến tranh Tối cao) đã bí mật cầu khẩn Liên Xô (đã ký hiệp ước trung lập với Nhật) làm trung gian hòa giải để cho Nhật được hưởng những điều kiện có lợi khi đầu hàng, ít nhất là Thiên Hoàng còn có được quyền lực khi Nhật Bản giải giáp.
Biết được thông tin này, ngày 26 tháng 7, H.Truman và các lãnh tụ phe Đồng minh ra bản Tuyên bố Potsdam, vạch ra điều kiện đầu hàng cho nước Nhật:
“Chúng tôi kêu gọi chính phủ Nhật Bản ra tuyên bố đầu hàng vô điều kiện ngay lập tức cho toàn bộ lực lượng vũ trang Nhật, và đưa ra sự đảm bảo thích đáng và đầy đủ đối với thiện ý của họ trong hành động như vậy. Sự lựa chọn khác cho Nhật Bản là sự hủy diệt toàn bộ ngay lập tức.”
Ngày hôm sau, các báo chí Nhật nêu rằng, bản tuyên bố, văn bản được truyền bá và trong những tờ truyền đơn thả xuống Nhật Bản đều bị từ chối. Những quả bom nguyên tử vẫn được giữ bí mật và không hề đả động trong bản tuyên bố.
Thiên hoàng Hirohito, vốn đang chờ đợi Liên Xô trả lời những thăm dò về hòa bình, đã không có bất kỳ thay đổi lập trường của chính phủ. Rõ ràng, ông ta hi vọng Nhật Bản được đầu hàng Liên Xô, là Hồng quân Liên Xô tiếp quản xứ sở Mặt trời mọc và quyền lực của Thiên Hoàng được duy trì.
Nên nhớ, trước đó khối Đồng Minh đã cùng với Liên Xô tham gia Hội nghị Tehran và Yalta, và người Mỹ muốn Liên Xô tấn công Nhật Bản. Và có lẽ, Liên Xô sẽ quyết thực hiện “lời hứa” của mình trước Mỹ và Anh.
Thế nhưng, người Mỹ thì muốn nhiều hơn thế. Lo sợ Nhật Bản đầu hàng Liên Xô, thế là Mỹ đã vạch ra kế hoạch làm gì đó để có thể tiếp quản Nhật Bản, đồng thời thể hiện vị thế siêu cường của mình. Tổng thống Mỹ khi ấy là H.Truman đã quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân để sát hại dân thường Nhật Bản, buộc nước Nhật phải sớm đầu hàng vô điều kiện.
Với quan điểm truyền thông: Ném bom vì hòa bình. Nhà vật lý học Edward Teller cho rằng: “Hy vọng duy nhất là để mọi người thấy thấy được kết quả của những gì chúng ta đã làm. Điều này có thể giúp thuyết phục mọi người rằng cuộc thế chiến kế tiếp sẽ vô cùng tàn khốc. Vì mục đích này, việc đem sử dụng bom nguyên tử trong chiến trận thực tế có thể sẽ là lựa chọn tốt nhất”.
Mục đích của Mỹ rất rõ ràng: Thả bom nguyên tử không những phải gây thương vong khủng khiếp, mà còn phải gây ấn tượng mạnh như việc xóa sổ một thành phố ra khỏi bản đồ thế giới. Giới tinh hoa của Mỹ thừa hiểu việc sử dụng bom nguyên tử sẽ mang lại hậu quả khủng khiếp, nhưng cái lý của họ là lại muốn nó kinh khủng như vậy để “sớm chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai và ngăn chặn việc sử dụng bom hạt nhân trong tương lai”, “hạn chế thêm thương vong không cần thiết.”
Ném bom nguyên tử vì hòa bình, nghe rất “nhân văn và đạo đức” đúng không?
Thế là, Mỹ quyết định tấn công một thành phố dân sự, trước đó còn rải hàng triệu tờ truyền đơn nhân đạo cảnh cáo về cuộc tấn công bằng vũ khí siêu cường. Và rồi, sau đó 1 ngày, theo lệnh của Tổng thống Harry Truman, ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản.
Sức tàn phá của quả bom nguyên tử đầu tiên thật kinh hoàng. Đám mây hình nấm cuộn lên vào khoảng 1 tiếng sau khi bom rơi. Sau này người ta thống kê được, sau vụ nổ tại Hiroshima đã có khoảng 75.000 người chết ngay lập tức, 65% trong số đó là trẻ dưới 9 tuổi. Số người chết tiếp tục tăng vài ngày sau do bức xạ… Với những người may mắn sống sót, sức khỏe của họ suy giảm trầm trọng. Họ mất cảm giác ngon miệng, tóc rụng, nhiều đốm xanh lợt xuất hiện trên cơ thể, máu chảy ra từ tai, mũi, miệng và thường chỉ sống thêm được vài năm sau đó.
Tất cả, đều là những thường dân vô tội tay không tấc sắt. Đây là một trong những tội ác man rợ nhất lịch sử loài người. Không thể phủ nhận rằng Nhật Bản thuộc về phe phát xít trong thế chiến, nhưng những gì người Mỹ đã làm qua việc thả bom nguyên tử xuống thành phố dân sinh còn kinh khủng hơn thế nhiều. Man rợ hơn tất cả những gì phát xít Nhật đã từng làm.
Nhưng người Nhật vẫn kiên trì, thật sự mong muốn họ có thể đầu hàng Liên Xô. Trong ngày 6/08/1945, sau khi ném bom nguyên tử ở Hiroshima, Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đã lên sóng phát thanh kêu gọi đầu hàng của Nhật Bản. Tổng thống Truman nói về bom nguyên tử và đe dọa nếu Nhật Bản không đầu hàng thì những tai họa như Hiroshima sẽ tiếp tục.
Và thông báo của Truman đã được Hoàng thân Koichi Kido chuyển cho Nhật hoàng lúc 13h30 phút ngày 07/08. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Nhật Bản (và hầu như toàn thế giới) khi đó chưa hề hiểu khái niệm “bom nguyên tử” là gì. Việc một thành phố bị hủy diệt là một tin gây chấn động trong thời hòa bình, nhưng trong bối cảnh năm 1945, hàng chục thành phố Nhật Bản như Tokyo, Osaka, Yokohama... đã bị máy bay ném bom Mỹ tàn phá hoàn toàn trong suốt nhiều tháng trước đó, riêng trận ném bom ở Tokyo đã giết hơn 100.000 thường dân chỉ trong 1 ngày, nên việc thành phố Hiroshima bị phá hủy và lời đe dọa mơ hồ của Truman đã chẳng gây được nhiều ấn tượng với bộ chỉ huy Nhật.
Việc Hội đồng Tối cao Đế quốc Nhật Bản hủy cuộc họp về vụ ném bom tại Hiroshima chứng tỏ các thành viên Hội đồng không coi vụ ném bom này là nghiêm trọng hơn những vụ trước đó. Và họ vẫn mong muốn được đầu hàng Liên Xô, và quyền lực của Thiên Hoàng sẽ ít nhiều được duy trì sau khi chiến tranh kết thúc.
Vào tối muộn ngày 8 tháng 8 năm 1945, chiểu theo thỏa thuận Yalta nhưng vi phạm Hiệp ước Trung lập Nhật-Xô, Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản và ngay sau đó Liên Xô đã tấn công chính quyền bù nhìn của Nhật ở Mãn Châu.
Nhưng người Mỹ phản ứng thần tốc, rất nhanh tay ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó, nhiều gấp đôi số người thiệt mạng ở Nagasaki trước đó. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân. Và hàng triệu người khác đã chết sau đó không lâu vì sức tàn phá và ảnh hưởng khủng khiếp của phóng xạ, thậm chí cho đến ngày nay người Nhật vẫn không thể khắc phục hoàn toàn.
Khi hàng trăm ngàn người dân vô tội bị chết, và người Mỹ lại càng ngạo nghễ. Họ nói rằng sẽ có một quả bom nữa vào tuần thứ ba tháng 8, ba quả nữa tháng 9 và ba quả tháng 10. Mục tiêu thứ 3 này được tin là Tokyo và có thể là cung điện Nhật hoàng Hirohito sẽ bị san phẳng.
Robert Norris, một thành viên Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ và từng nhiều năm nghiên cứu lịch sử của những vụ ném bom nguyên tử đầu tiên, nhận định việc Mỹ ném bom hủy diệt Hiroshima “thật sự (khiến thế giới không còn dám nghĩ đến chiến tranh hạt nhân) nhiều năm sau đó bởi sức tàn phá kinh khủng của nó.
Vậy là ngày 10 tháng 8, sau khi Liên Xô nổ súng tấn công triều đình Mãn Châu, lấy ý kiến của Hội đồng tối cao, Thiên hoàng Hirohito đưa ra lời phán: “Trẫm đã nghĩ kĩ rồi. Người Nga đã tham chiến. Nhật Bản đang lâm vào tình thế “lưỡng đầu thụ địch” cả hai mặt đều bị tiến công. Chỉ còn một giải pháp do thủ tướng Suzuki đề xuất là đầu hàng ngay lập tức mới có thể tìm được lối thoát.”
Thế là, sau cú sốc cộng hưởng của những sự kiện này đã khiến Nhật hoàng Hirohito phải ra lệnh cho Hội đồng Chiến tranh Tối cao chấp nhận những điều kiện kết thúc chiến tranh mà Khối Đồng Minh, đứng đầu là Mỹ đã soạn thảo trong Tuyên bố Potsdam.
Ngày 15/08/1945 Nhật hoàng Hirohito đã đọc bài diễn văn Gyokuon-hōsō trên đài phát thanh tuyên bố Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, đầu hàng vô điều kiện.
Rõ ràng, với sức mạnh truyền thông của mình, người Mỹ luôn cố nói theo kiểu rằng họ góp phần lớn trong thế chiến II, và hai quả bom nguyên tử kia đã chấm dứt chiến tranh sớm hơn nhiều tháng và hạn chế thiệt hại sinh mạng các bên tham chiến. Quan điểm rất rõ ràng: Ném bom vì hòa bình, tức là tiêu diệt hàng triệu sinh mạng vô tội khác để sớm chấm dứt chiến tranh là kiểu Hòa bình của người Mỹ.
Nhưng, ném bom tàn sát dân thường, rõ ràng là hành vi vô đạo đức!
Thời khắc Nhật Hoàng Hirohito cúi đầu trước tướng Mỹ là Douglas MacArthur trong ê chề, kết cục tất yếu của một nước bại trận – mà là bại trận trong đau đớn với hàng triệu thường dân vô tội bị chết oan vì bom nguyên tử. Bị Mỹ tiếp quản, cai trị, tước quân đội, sửa hiến pháp - có lẽ cũng kể từ thời khắc đó, tinh thần Võ Sĩ Đạo của người Nhật cũng bắt đầu chết mòn.
Xin chia buồn cùng nước Nhật!
Nguồn: https://www.facebook.com/421585147894810/posts/2991395480913751/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.