NHỮNG ĐỒNG MINH BÍ MẬT CỦA BỌN DIỆT CHỦNG KH’ MER ĐỎ
1- Lời giới thiệu:
Chế độ diệt chủng Kh’mer Đỏ chỉ tồn tại ở Campuchia gần 4 năm trước khi bị nhân dân Campuchia, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam lật đổ đầu năm 1979. Trong gần 4 năm đó, chế độ diệt chủng này đã tàn sát khoảng 3 triệu dân thường Campuchia cùng nhiều người dân vô tội Việt Nam, Thái Lan, Lào và cả các nước phương Tây.
Nhưng sau khi bị lật đổ và bị đánh đuổi sang vùng biên giới Thái Lan – Campuchia, cái “quái thai” Kh’mer Đỏ ấy vẫn có thể sống sót trong rừng rậm, tiến hành nhiều cuộc đột kích từ bên kia biên giới Thái Lan vào lãnh thổ Campuchia, tiếp tục tàn sát dân lành Campuchia và gây sát thương cho hàng chục vạn quân tình nguyện Việt Nam và hàng vạn chiến sĩ Quân đội nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia.
Tại sao chúng có thể làm được điều đó trong suốt cả một thập kỷ (1979-1989) ?
Tại sao những kẻ can tội ác diệt chủng, tội ác chống lại loài người lại được giữ chiếc ghế thành viên Liên Hợp Quốc từ khi chúng bị lật đổ năm 1979 cho đến tận những năm 1990 ?
Tại sao các thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã nhất trí về một phiên tòa xét xử chế độ tội ác Kh’mer Đỏ và các thành viên chủ chốt của nó ngay sau khi UNTAC (Lực lượng gìn giữ hòa binh Liên Hợp Quốc ở Campuchia) bắt đầu hoạt động mà mãi đến gần đây, một phiên tòa như vậy mới được mở, cho dù còn lâu mới có thể có được hồ sơ tội ác của Kh’mer Đỏ một cách đầy đủ nhất ?
Những ai đã hà hơi, tiếp sức cho Kh’mer Đỏ về vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh, lương thực, thực phẩm, quân y, sự trợ giúp về chiến thuật biệt kích cũng như về thông tin tình báo và cả sự yểm trợ về chính trị để chúng có thể chống lại Quân đội Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia và Quân tình nguyện Việt Nam trong hơn 10 năm ròng rã ?
Tại sao Việt Nam, một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh trong tình trạng suy kiệt phải tiến hành một cuộc chiến bắt buộc để tự bảo vệ mình lại bị coi là kẻ xâm lược trong suốt mấy chục năm trời ? Và tại sao đến gần đây, có kẻ vẫn nhắc lại cái luận điệu bịa đặt nhơ bẩn ấy ?
Cho đến nay, cả thế giới đều biết đứng sau tập đoàn tội phạm chống lại loài người Pol Pot – Yeng Sary là Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu chỉ một mình Trung Quốc “chống lưng” cho Kh’mer Đỏ thì không đủ. Cả thế giới sẽ chống lại Trung Quốc. Vậy thì ngoài Trung Quốc ra, còn những kẻ nào đã “chống lưng” cho Pol Pot ?
Thái Lan dưới thời chính phủ Prem Tinsulanolda ư ? Có đấy nhưng không phải là không giới hạn ! Người Thái nói chung tuy vẫn nuôi tham vọng tranh giành ảnh hưởng ở Lào và Campuchia trong những năm cuối thế kỷ XX nhưng không dại gì để một mình lao vào một cuộc chiến mà không có chuẩn bị từ trước; nhất là đối với một “kẻ cạnh tranh” thiện chiến như Việt Nam. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ư ? Hay Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania ? Hay Cộng hòa Nhân dân Albania ? Cũng không phải ! Những nước xã hội chủ nghĩa này dù thân Trung Quốc, thậm chí là đồng minh chiến lược của Trung Quốc nhưng cũng vẫn nhận thức được bản chất của Kh’mer Đỏ. Và hơn nữa, họ không có quyền lợi trực tiếp cũng như không đủ tiềm lực mọi mặt để dính líu vào vấn đề Campuchia đang rất phức tạp khi đó. Vì vậy, sự ủng hộ của họ đối với Trung Quốc trong vấn đề Campuchia khi đó là có chừng mực và chỉ mang tính hình thức.
Vậy thì những ai ngoài Trung Quốc là đồng minh bí mật của Kh’mer Đỏ ?
Sốt ruột về việc mãi đến tận năm 2000, một Tòa án quốc tế nhằm xét xử những kẻ diệt chủng đầu sỏ trong chế độ Kh’mer Đỏ vẫn chưa được mở, nhà báo kiêm nhà làm phim tài liệu điều tra người Australia John Pilger, người từng được giải thưởng báo chí Pulitzer đã có một loạt bài báo vạch trần việc người Mỹ và người Anh đã giúp Kh’mer Đỏ chống lại Việt Nam như thế nào. Bài báo có nhan đề: “The long secret alliance Uncle Sam and Pol Pot”.
------------------------------------------
2- Lời người dịch:
“Thập niên 1980 là một thập niên quyết liệt cuối cùng của Chiến tranh Lạnh mà Anh và Mỹ đã giở hết những ngón nghề hạ lưu bỉ ổi nhất để chiếm thượng phong, từ liên kết với đại cường Trung Quốc để thúc đẩy phát triển kinh tế cả đôi bên và cô lập Liên Xô, vừa cùng với độc tài, khủng bố trên khắp thế giới đè bẹp những phong trào tiến bộ đòi độc lập tự do trên khắp thế giới, để giữ chặt vùng kiểm soát của mình, vừa đánh lén trả thù, ném đá giấu tay để thỏa mãn thú tính”
Ở nơi mà đã cho đế quốc Mỹ một thất bại hiếm hoi cay đắng, Việt Nam, Mỹ đã vớ được một cơ hội trả thù ngàn vàng khi Việt Nam đem quân vào Campuchia dẹp bỏ chế độ Kh'mer Đỏ, sau khi họ đã nhiều lần tấn công vào đất Việt Nam giết hại hàng ngàn dân thường và tàn phá làng mạc, và thực hiện một chính sách diệt chủng trên đất họ, trong đó có người Việt Nam.
Bài dưới đây là một thí dụ nữa về những hoạt động dơ dáy bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng của hai chiến hữu lâu năm mặt người lòng thú Anh-Mỹ và Trung Quốc thời thập niên 80 ở Campuchia. Họ đã ban bố ‘tự do, dân chủ, nhân quyền’ cho dân nước này bằng cách ủng hộ cái ghế của Polpot ở Liên Hợp Quốc và tài trợ, trang bị vũ khí, huấn luyện, nuôi dưỡng tàn quân Kh'mer Đỏ đóng trên đất Thái trong suốt 10 năm, sau khi những vụ thảm sát diệt chủng của Khmer Đỏ đã được đưa ra ánh sáng”.
-----------------------------------------------
3- “Mỹ – Anh đã giúp chế độ Khmer Đỏ chống Việt Nam như thế nào?”
“17 tháng Tư năm nay (2000) đã là 25 năm từ khi Khmer Đỏ của Polpot tiến vào Phnom Penh. Trong lịch của sự cuồng tín, đó là Năm Số Không: Không gia đình; không tiền tệ, không chợ búa, không tôn giáo, không trường học. Khoảng hai triệu người, tức một phần năm dân số của Campuchia đã chết như một hệ quả tất yếu của ngày hôm đó. Để đánh dấu ngày kỷ niệm này, tội ác của Polpot sẽ được nhắc đến, gần như một hành động mang tính nghi thức cho những người tò mò về những trò chơi chính trị đen tối và không được giải thích.
Đối với những người cầm chịch đầy sức mạnh của phương Tây, những bài học đúng đắn đã không được rút ra, vì không có những mối dây liên hệ nào có thể dẫn tới họ và tới những người đi trước của họ, những người đã từng là đối tác kiểu Faust (nhân vật huyền thoại thời trung cổ đã bán linh hồn cho ác quỉ để đổi lấy kiến thức và sức mạnh) với Polpot. Tuy vậy, sự thật vẫn là sự thật, nếu không có sự đồng lõa của phương Tây, Năm Số Không có thể đã chưa bao giờ xảy ra hay có nguy cơ đe dọa trở lại nếu nó không được nuôi dưỡng lâu dài đến như vậy.
Những tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ để lại rất ít nghi ngờ rằng việc ném bom bí mật và bất hợp pháp lên lãnh thổ nước Campuchia trung lập khi đó bởi Tổng thống Richard Nixon và Henry Kissinger. Những trận ném bom B-52 xuống Campuchia trong giai đoạn 1969 và 1973 đã gây ra chết chóc và tàn phá trên bình diện rộng. Chính nó đã tạo điều kiện cho sự hình thành sức mạnh của lực lượng Polpot.
Giám đốc hoạt động của CIA tường trình vào tháng 2-1973 như sau: “Họ đang lợi dụng những thiệt hại gây ra bởi những vụ ném bom B52 như là đề tài chính để tuyên truyền. Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự tuyển mộ thành công nhiều thanh niên vào hàng ngũ Kh’mẻ Đỏ. Người ta cho rằng chiến dịch tuyên truyền đã có hiệu quả với những người tị nạn trong những vùng là mục tiêu của B52.”
Qua việc thả một khối lượng bom tương đương với 5 quả bom nguyên tử ở Hiroshima lên một cộng đồng nông dân, Nixon và Kissinger đã giết chết ước tính khoảng một nửa triệu người. Với họ (chỉ Nixon và Kisinger) Năm Số Không đã bắt đầu như vậy trên thực tế. Việc ném bom bừa bãi là một chất xúc tác cho sự nổi lên của một nhóm bè phái Khmer Đỏ, mà chủ trương căn bản là sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mao và nếp sống thời Trung cổ mà trước đó không được sự ủng hộ trong đại chúng.
Sau ba năm rưỡi nắm quyền, Khmer Đỏ bị lật đổ bởi quân đội Việt Nam vào Ngày Lễ Noel năm 1978 (thực ra là ngày 7-1-1979, tương đương với ngày Lễ Noel của người theo đạo Thiên Chúa giáo chính thống). Và trong những tháng năm sau đó, Mỹ cùng với Trung Quốc và những đồng minh của họ, trong đó có chính phủ Magaret Thatcher (Thủ tướng Anh lúc đó), đã chống lưng cho Polpot đang trốn chạy và nương náu trên đất Thái Lan. Ông ta là kẻ thù của kẻ thù của họ: Việt Nam.
Công lao giải phóng Campuchia của Việt Nam đã không được công nhận, vì họ ở bên kia chiến tuyến trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Đối với người Mỹ thì chiến thuật bây giờ của họ đang là ủng hộ Bắc Kinh để chống lại Moskva. Đơn giản là vì Mỹ có một bàn thua cần phải gỡ như gỡ một mối nhục của họ khi phải tháo chạy khỏi Sài Gòn trên những mái nhà.
Trong việc này, Liên Hiệp Quốc đã bị lạm dụng bởi những cường quốc. Mặc dù chính phủ Khmer Đỏ (“Kampuchea Dân chủ”) đã ngừng tồn tại từ tháng Giêng năm 1979, nhưng những đại diện của nó vẫn được phép tiếp tục chiếm giữ cái ghế của Campuchia tại Liên Hợp Quốc. Sự thực là bởi Mỹ, Trung Quốc và Nước Anh đã đòi hỏi như thế. Cùng lúc đó, một lệnh trừng phạt và cấm vận của Hội đồng Bảo an lên Campuchia đã làm nước này tăng thêm sự khốn khổ, mất mát khi đang bị tổn thương nặng nề. Trong khi Kh’mer Đỏ đang lưu vong thì gần như muốn gì được nấy bởi chúng đã bỏ phiếu đồng ý cho việc trừng phạt và cấm vận chính đất nước của chúng và đồng bào của chúng.
Năm 1981, cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Jimmy Carter là Zbigniew Brzezinski đã nói: “Tôi động viên người Trung Hoa hỗ trợ Polpot”. Ông ta còn nói thêm rằng “nước Mỹ đã “nháy mắt công khai” khi Trung Quốc gửi vũ khí cho Khmer Đỏ". Sự thật là Mỹ đã bí mật tài trợ cho Polpot lúc đang lưu vong trên đất Thái Lan từ tháng Giêng năm 1980. Qui mô của sự hỗ trợ này là 85 triệu USD từ năm 1980 đến năm 1986 đã được tiết lộ ra qua một bức thư gửi tới một thành viên của Ủy ban Đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ.
Trên biên giới Thái Lan với Campuchia, CIA và các cơ quan tình báo khác thiết lập một cơ quan gọi là “Nhóm Cứu trợ khẩn cấp cho Campuchia”. Nhóm này có nhiệm vụ là bảo đảm hàng cứu trợ nhân đạo sẽ đến những khu vực của Khmer Đỏ trong những trại tị nạn và bên kia biên giới. Hai người Mỹ làm việc trong nhóm cứu trơ gồm Linda Mason và Roger Brown sau đó đã viết “Chính phủ Mỹ nhấn mạnh rằng Khmer Đỏ phải được nuôi… Mỹ thích việc nuôi cơm cho Khmer Đỏ vì việc đó làm tăng uy tín của hoạt động cứu trợ mà cả thế giới biết đến”. Còn Richard Holbrooke, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Mỹ lúc đó đã viết: “Dưới sức ép của Mỹ, Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) đã trao hơn 12 triệu USD giá trị thực phẩm cho quân đội Thái Lan làm trung gian để chuyển cho Khmer Đỏ; Có 20.000 tới 40.000 kháng chiến quân Polpot đã hưởng lợi nhờ sự trợ giúp đó”,
Bản thân tôi đã chứng kiến điều này. Đi cùng đoàn xe của Liên Hợp Quốc gồm 40 xe tải, Tôi đến một khu căn cứ hoạt động của Khmer Đỏ ở Phnom Chat. Người chỉ huy cơ sở này là Nam Phann, một người khét tiếng, được nhân viên cứu trợ biết đến với cái tên “Đồ tể” và là một “Himmler của Polpot”. Sau khi hàng cứu trợ đã được bốc dỡ hết ngay dưới chân mình, ông ta nói “Cám ơn bạn rất nhiều. Và chúng tôi muốn có thêm nữa”.
Trong tháng 11 năm 1980, một cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa Nhà Trắng và Khmer Đỏ đã được bố trí khi tiến sĩ Ray Cline, một cựu phó giám đốc của CIA đã tiến hành cuộc viếng thăm bí mật đến một trụ sở hoạt động chính của Khmer Đỏ ở Thái Lan. Lúc đó R. Cline là một cố vấn về chính sách đối ngoại trong nhóm chuyển tiếp của Tổng thống Mỹ mới đắc cử là Ronald Reagan.
Đến năm 1981, một số chính phủ trên thế giới đã trở nên khó chịu rõ rệt với “trò chơi đố chữ” của Liên Hợp Quốc khi họ đang tiếp tục công nhận cái chế độ đã chết từ lâu của Polpot. Cần phải làm một cái gì đó để cải thiện tình hình. Năm sau đó (1982), Mỹ và Trung Quốc đã “sáng chế” ra Chính phủ Liên minh Dân chủ Campuchia. Đó thực sự không phải là một Liên minh, cũng không phải tổ chức Dân chủ, hay là một Chính phủ đang hiện hữu trên đất Campuchia. Nó là cái được CIA gọi là “một ảo ảnh siêu đẳng”. Hoàng tử Norodom Sihanouk được chỉ định làm cái đầu của nó; ngoài ra không có gì khác nhiều cả. Hai nhóm “không cộng sản”, nhóm thứ nhất là những người theo Sihanouk được dẫn dắt bởi con trai của Sihanuk là Norodom Ranarith, nhóm thứ hai là Mặt trận Giải phóng Quốc gia của người Kh’mer mà về ngoại giao và quân sự đều bị khống chế bởi phe Kh’mer Đỏ. Một trong số những bạn thân của Polpot, Thaoun Prasith, là người điều hành văn phòng đại diện của cái “ảo ảnh siêu đẳng” ấy tại Liên Hợp Quốc ở New York.
Tại Bangkok, người Mỹ cung cấp cho “liên minh” này những kế hoạch tác chiến, đồng phục, tiền mặt và thông tin tình báo từ vệ tinh. Vũ khí thì được trực tiếp chuyển đến từ Trung Quốc hay từ phương Tây qua trung gian Singapore. Phe không cộng sản đáng xấu hổ nói trên đã trở thành cái cớ cho phép Quốc hội Mỹ, được hối thúc bởi một người cuồng tín về Chiến tranh Lạnh là Stephen Solarz, Chủ tịch Ủy ban Quân lực Hạ nghị viện Mỹ phê duyệt ngân khoản trị giá 24 triệu USD để viện trợ cho cái gọi là “quân kháng chiến Kh’mer”.
Cho đến năm 1989, vai trò của Anh ở Campuchia vẫn còn nằm trong bí mật. Những tường trình đầu tiên xuất hiện trên tờ “Sunday Telegraph” (Điện tín chủ nhật), được viết bởi Simon O’Dwyer Russell, một phóng viên chuyên về ngoại giao và quốc phòng, người từng có những tiếp xúc nghề nghiệp và gia đình gần gũi với SAS (lực lượng đặc nhiệm Anh). Ông ta tiết lộ rằng SAS đang huấn luyện lực lượng do Polpot cầm đầu. Không lâu sau đó, phóng viên Janes của tờ “Defense Weekly” (Tuần báo Quốc phòng) lại cho biết rằng việc huấn luyện của Anh cho những thành viên “không cộng sản” của “liên minh” đó đã được thực hiện “tại những căn cứ bí mật trên đất Thái Lan trong hơn bốn năm vừa qua. Huấn luyện viên được cử đến từ SAS. Tất cả bọn họ đều là những nhân viên quân sự đang tại ngũ, hoặc là cựu chiến binh của cuộc xung đột Falklands, được chỉ huy bởi một đại úy”.
Việc huấn luyện ở Campuchia đã trở thành của riêng người Anh sau khi vụ “Iran-Contra Gate” đầy tai tiếng. Đó là vụ đổi vũ khí lấy con tin bị vỡ lở ngay ở Washington năm 1986. O’Dwyer - Russell dẫn một nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết “Nếu Quốc hội Mỹ biết được chuyện người Mỹ có dính dáng đến chương trình huấn luyện bí mật ở Đông Dương chứ chưa nói đến việc đó là huấn luyện cho lực lượng Polpot thì “cái bong bóng” ấy chắc đã bay ngay lên rồi. Đó là một trong những vụ dàn dựng ăn ý cổ điển giữa Thatcher và Reagan”. Hơn nữa, Margaret Thatcher đã buột miệng, trước sự kinh ngạc của Ngoại trưởng Anh rằng “những người ôn hòa hơn trong lực lượng Khmer Đỏ sẽ phải đóng vai trò nào đó trong chính phủ tương lai”. Năm 1991, tôi có phỏng vấn một thành viên của Đội “R” (tức đội dự bị của SAS), một người đã từng phục vụ ở vùng biên giới Thái Lan – Campuchia và được trả lời: “Chúng tôi đã huấn luyện Khmer Đỏ về rất nhiều những nội dung chiến thuật và rất nhiều kỹ thuật về đánh mìn. Chúng tôi đã sử dụng những quả mìn có nguồn gốc từ Kho đạn dược của quân đội Hoàng gia Anh, chuyển nó qua đường Ai Cập để tráo đổi nhãn mác… Chúng tôi thậm chí còn huấn luyện họ về tâm lý. Lúc đầu, họ chỉ muốn đi vào làng để chém người thôi. Nhưng chúng tôi đã bảo họ cách làm sao cho có hiệu quả mà vẫn cảm thấy đỡ căng thẳng hơn…”
Bộ Ngoại giao Anh đã phản ứng trước những thông tin này bằng cách tuyên bố rằng đó là những lời nói láo. Một nghị sĩ Anh tuyên bố: “Nước Anh không có một sự giúp đỡ quân sự dưới bất kỳ hình thức nào cho các đảng phái ở Campuchia”. Maggaret Thatcher, thủ tướng Anh lúc đó đã viết cho Neil Kinnock rằng “Tôi xác nhận không có sự liên can nào giữa chính phủ Anh dưới bất kỳ hình thức nào tới việc huấn luyện, trang bị hay hợp tác với Khmer Đỏ hay những nhóm đồng minh với họ”. Nhưng đến ngày 25-6-1991, sau hai năm chối quanh, cuối cùng Chính phủ Anh cũng buộc phải thừa nhận rằng SAS đã bí mật huấn luyện “quân kháng chiến Kh’mer Đỏ” từ 1983.
Một bài phóng sự của “Asia Weekly” (Tuần Châu Á) tháng 7-1991 đã mô tả chi tiết: việc SAS đã dạy “cách chế tạo và sử dụng những bẫy mìn tự tạo, cách chế tạo và sử dụng những thiết bị kích nổ chậm”. Tác giả của bài phóng sự, phóng viên Rae McGrath (đồng Giải thưởng Nobel Hoà bình từ cuộc vận động quốc tế chống bom mìn), đã viết trên tờ “The Guardian” (Người bảo vệ) rằng “Việc huấn luyện của SAS là một chính sách phạm tội vô trách nhiệm và đê tiện”.
Cuối cùng thì một “lực lượng gìn giữ hoà bình” của Liên Hợp Quốc (UNTAC) cũng đã đặt chân đến ở Campuchia vào năm 1992. Bản “Hiệp ước bán linh hồn cho ác quỉ” giờ đây đã lộ rõ hơn bao giờ hết. Được gọi đơn thuần và nhẹ nhàng là một “thành phần trong cuộc chiến”, Khmer Đỏ được chào đón quay trở lại Phnom Penh bởi viên chức của Liên Hợp Quốc chứ không phải bởi người dân Campuchia. Một chính khách phương Tây, người được cho là đã dày công kiến tạo “tiến trình hoà bình”, Ngoại trưởng Australia Gareth Evans đã rào trước đón sau bằng việc yêu cầu nên có một cách tiếp cận “vô tư” đối với Khmer Đỏ và đặt ra câu hỏi rằng liệu việc gọi họ là diệt chủng có phải đã tạo ra “một viên đá cản đường hiện hữu” hay không ?
Khieu Samphan, thủ tướng của Polpot trong thời gian những năm diệt chủng đã tiếp nhận màn chào đón của Lực lượng giữ gìn hòa bình Liên Hợp Quốc. Đứng bên cạnh ông ta là tướng John Sanderson chỉ huy UNTAC người Australia. Eric Falt, người phát ngôn của Liên Hợp Quốc ở Campuchia nói với tôi: “Mục tiêu của tiến trình hòa bình là cho phép Kh’mer Đỏ gây dựng lại vị thế của nó”.
Hệ quả của việc Liên Hợp Quốc nhúng tay vào Campuchia thông qua UNTAC là việc phân lập không chính thức ít nhất một phần tư lãnh thổ Campuchia cho Kh’mer Đỏ quản lý (theo bản đồ quân sự của Liên Hợp Quốc). Việc đó đã không những không thể chấm dứt xung đột mà ngược lại, còn tạo điều kiện cho một cuộc nội chiến mới đang âm ỷ chờ dịp bùng phát. Kèm theo đó là cuộc bầu cử của một chính phủ bị chia rẽ đến mức không thể hàn gắn giữa hai “đồng thủ tướng” Pecho Hun Sen và Norodom Ranariddh.
Chính phủ Hun Sen sau đó đã thắng trong cuộc bầu cử thứ hai một cách áp đảo. Nhiều người coi ông ta là độc đoán và đôi khi thô bạo. Nhưng xét theo điều kiện thực tế ở Campuchia thì điều đó là bình thường bởii sự ổn định vẫn được đặt lên trên hết. Chính phủ ấy được dẫn dắt bởi một người bất đồng quan điểm với Khmer Đỏ cũ, chạy trốn sang Việt Nam từ những năm 1970, đã giải quyết xong những thỏa thuận với những nhân vật lãnh đạo thời Polpot, đáng chú ý là nhóm ly khai của Ieng Sary, trong khi từ chối miễn tố cho những người khác.
Một khi chính phủ Phnom Penh và Liên Hợp Quốc có thể đồng ý về một khuôn mẫu, một tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh chống loài người sẽ có nhiều khả năng tiến hành. Nhưng người Mỹ vẫn không muốn có sự tham gia nhiều của người Campuchia. Mối quan ngai của họ thật dễ hiểu vì sẽ không chỉ có Khmer Đỏ bị buộc tội.
Luật sư Campuchia biện hộ cho Ta Mok, người lãnh đạo quân Khmer Đỏ bị bắt năm ngoái (1999), đã nói: “Mọi người ngoại quốc liên quan phải được gọi ra trước tòa án, và sẽ không có những ngoại lệ… Có thể kể ra đây Madeleine Albright (ngoại trưởng Mỹ), Margaret Thatcher (thủ tướng Anh), Henry Kissinger (cố vấn An ninh Nhà Trắng), Jimmy Carter, Ronald Reagan và George H. W. Bush (các tioorng thống Mỹ)… Chúng tôi sẽ mời họ tới để nói cho thế giới biết rằng tại sao họ đã hỗ trợ cho Kh’mer Đỏ”.
Đó là một nguyên lý quan trọng mà Washington và Whitehall (Nhà Trắng) nên ghi nhớ nếu bây giờ họ lại đang nuôi dưỡng những tên bạo chúa tay dính đầy máu nào đó ở một nơi nào đó trên thế giới này.”
(Hết lược dịch, nguồn dịch thô của REDSVN, có chỉnh lý).
Nguồn: Bài viết trên fb của tác giả Tâm Minh Nguyễn
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2367014940245537&id=100008111627906
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.