Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

BẢN CHẤT THAM NHŨNG HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ

Tác giả: Tống Công Minh

Kỳ 4: Các vi phạm về kỷ luật Đảng có liên quan đến tham nhũng. Phát huy tập trung dân chủ trong Đảng là cần thiết để phòng chống tham nhũng.


I. Các vi phạm về kỷ luật Đảng có liên quan đến tham nhũng.


Đa phần những người bị khởi tố trong các vụ đại án tham nhũng ở Việt Nam vừa nêu trên đều giữ các chức vụ cao trong Đảng, hoặc giữ vai trò đứng đầu cơ quan Đảng trong bộ máy nhà nước địa phương hay trong các công ty nhà nước. Những bị cáo này đều đã vi phạm nghiêm trọng các quy định của Đảng, phạm phải các điều cấm kỵ mà Đảng viên không được làm căn cứ theo Quyết định Số 47-QĐ/TW ngày 01/11/2011, bao gồm:


+ Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép.

+ Quan liêu, thiếu trách nhiệm, bao che, báo cáo sai sự thật, lạm quyền, nhũng nhiễu khi thực hiện nhiệm vụ. Thiếu trách nhiệm để cơ quan, đơn vị, địa phương do mình trực tiếp phụ trách xảy ra tình trạng mất đoàn kết, tham nhũng, buôn lậu, lãng phí, thất thoát tài sản và các tiêu cực khác.

+ Làm trái quy định trong những việc : quản lý nhà, đất, tài sản, vốn, tài chính của Đảng và Nhà nước; huy động vốn và cho vay vốn tín dụng; thẩm định, phê duyệt, đấu thầu dự án; thực hiện chính sách an sinh xã hội, cứu trợ, cứu nạn; công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, các quy định trong hoạt động tố tụng.

+ Chủ trì, tham mưu, đề xuất, tham gia ban hành các văn bản trái quy định. Tạo điều kiện hoặc có hành vi để bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình nhằm trục lợi.


Ngoài ra, lúc còn đương chức, một số cán bộ lãnh đạo "nhúng chàm" đã thể hiện thái độ hai mặt, bề ngoài tỏ ra mẫn cán với công việc, thậm chí ủng hộ chống tham nhũng, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong Đảng. Tuy nhiên họ cũng lại vi phạm với chính những điều mà họ phát biểu, bản thân tự diễn biến, tự chuyển hóa, cuôi cùng đi ngược lại với lý tưởng và bản lĩnh chính trị của Đảng viên. Qua đó có thể thấy họ có tinh chất hai mặt giống như N. Khơrutxôp, B. Enxin hay M. Goocbachôp.


Như vậy có thể thấy các cán bộ này không chỉ tha hóa, biến chất mà còn có dấu hiệu lạm quyền trong thực hiện nhiệm vụ, làm trái các quy định của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên các hoạt động của họ không được sự giám sát hiệu quả bởi Đảng bộ các cấp cơ sở và thường phải được xử lý ở trên Trung Ương. Đây là một vấn đề nan giải và cho thấy hoạt động dân chủ tại các tổ chức Đảng phía dưới đã bị vi phạm nghiệm trọng, gây ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Đảng, điều này dễ dẫn đến việc Đảng bộ chỉ còn hoạt động trên hình thức, mất đi tính tập trung. Các Đảng bộ tại các địa phương, các cơ quan, công ty Nhà nước đang dần trở thành hệ thống mang tính quan liêu, mang lại đặc quyền đặc lợi cho một số ít cá nhân.


Những vi phạm này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của Đảng bởi nó đe dọa đến tính giai cấp của Đảng khi càng ngày càng có nhiều cán bộ Đảng viên lãnh đạo đã vi phạm tính tập trung dân chủ, xa rời tính giai cấp vô sản mà đang từng bước vươn lên trở thành giai cấp tư sản thông qua con đường tham nhũng. Những thành phần này sẽ đẩy Đảng ra xa khỏi giai cấp vô sản và nhân dân lao động Việt Nam, biến Đảng trở thành kẻ thù của giai cấp vô sản bởi nạn tham nhũng tràn lan. Đến khi tình hình không thể kiểm soát được thì Đảng tất yếu phải giải thể dưới áp lực của sự tha hóa biến chất, giai cấp vô sản vốn là nguồn gốc và sức mạnh của Đảng sẽ không thể ủng hộ Đảng trước cơn bão tư bản hóa Đảng viên, và những Đảng viên biến chất, tham nhũng sẽ công khai phản bội lại Đảng, phản bội lại lý tưởng chủ nghĩa xã hội, biến bản thân họ trở thành các trùm tư bản mới.


Đó chính là những gì xảy ra ở Liên Xô.


II. Phát huy tập trung dân chủ trong Đảng là cần thiết để phòng chống tham nhũng.


Người ta vẫn nói rằng, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Điều đó cũng đúng cho công tác phòng chống tham nhũng, bởi vì "bệnh" tham nhũng phát tác thì việc chữa trị là vô cùng vất vả và để lại nhiều hậu quả. Thực tiễn cho thấy tham nhũng hoành hành nhiều nhất ở những nơi mà nguyên tắc dân chủ tập trung của Đảng bị vi phạm nhiều nhất. Ở những nơi đó, quyền lực tập trung vào trong tay một người hoặc chỉ một nhóm người đứng đầu tại Đảng bộ đơn vị đó, vì vậy ý kiến của lãnh đạo trở thành mệnh lệnh tối thượng, những người còn lại không dám làm trái và ngại phản bác.


Vì sao tồn tại những nơi mà nguyên tắc dân chủ tập trung bị vi phạm như vậy ? Điều thứ nhất cần để ý là một phần nhiều Đảng viên có xuất thân từ tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Đây là thành phần có học thức, có chuyên môn, nhưng dễ dao động, tinh thần cách mạng kém, không có tư tưởng giai cấp. Tư tưởng cầu an, cầu tai, an phận thủ thường, dĩ hoà vi quý tồn tại phổ biến trong tầng lớp này. Vì vậy thông thường họ không dám mạnh dạn đấu tranh đến cùng với sai trái và ít có tính đoàn kết dân chủ - chỉ thực hiện dân chủ về mặt hình thức. Vì vậy để tăng tính chiến đấu và tính dân chủ trong Đảng cần phải tăng cường kết nạp giai cấp vô sản vào trong Đảng, vì đây là giai cấp có tính cách mạng, có tính chiến đấu cao nhưng cần phải tăng cường bồi dưỡng về lý luận và kiến thức. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng kết hợp với sự làm chủ của giai cấp công nhân. Như vậy mới có thể tăng cường tính dân chủ tập trung trong Đảng, người làm động có quyền làm chủ tư liệu sản xuất của chính họ thì họ sẽ tận dụng các quyền dân chủ để chống lại đặc quyền tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước.


Điều thứ hai, phải đảm bảo cho tất cả Đảng viên, kể cả Đảng viên "bình thường" nhất, đều dám phát biểu, dám phản biện, và dám chịu trách nhiệm về hậu quả của lời nói và hành động của mình. Hiện nay, ý kiến của Đảng viên thường đi theo cơ chế chiều dọc, phải qua rất nhiều cấp mới có thể lên được Đảng ủy cấp cao, chính vì vậy Đảng viên "bình thường" ít có tiếng nói, họ cũng không thể chống tham nhũng một cách trực tiếp tại Đảng bộ của họ nếu các lãnh đạo tại cơ sở của họ là người tham nhũng, bởi vì các ý kiến của các Đảng viên thường bị gạt đi, thâm chí có thể bị trù dập. Chính vì vậy không chỉ cần liên kết Đảng viên theo chiều dọc mà cần tăng cường liên kết quyền lực của các Đảng viên theo chiều ngang, để tạo nên sức mạnh lãnh đạo tập thể và trách nhiệm cá nhân. Có như vậy mới có thể hạn chế những đặc quyền, đặc lợi của một số bộ phận cán bộ lãnh đạo các cấp ở trong Đảng.


Điều thứ ba, cần phải tăng cường công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng, đây là câu chuyện "nói mãi" nhưng không hề cũ. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ví tự phê bình và phê bình giống như rửa mặt hàng ngày, phải thực hiện thường xuyên. Con người ai cũng từng phạm sai lầm và có khuyết điểm, nhưng biết lỗi mà sửa còn tốt hơn gấp nhiều lần biết mà không sửa, lâu dần tích lại thành tội to. Tuy nhiên nhiều năm nay công tác tự phê bình và phê bình đã bị bê trễ nhiều, ở nhiều nơi Đảng viên chỉ thực hiện chiếu lệ, qua loa, không dám nhìn thẳng vào khuyết điểm thực sự. Bởi vì Đảng viên gắn việc phê bình với thành tích cá nhân và thành tích tập thể, cho rằng chi bộ nào càng nhiều lỗi thì thành tích càng đi xuống, thành ra không dám nhận lỗi vì sợ mất thành tích. Chưa kể khi có người chỉ ra khuyết điểm của bản thân thì tự ái, không tiếp thu, thái độ thiếu cầu thị, đặc biệt là một số lãnh đạo cao cấp còn trù dập Đảng viên cấp dưới, đây là một biểu hiện mất dân chủ nghiêm trọng trong Đảng. Cứ như vậy lâu dần lỗi không được sửa mà càng ngày càng mắc nặng hơn. Điều này cần phải được chỉnh đốn lại. Công tác phê bình và tự phê bình cần phải thực hiện nghiêm túc, quán triệt tư tưởng tập thể lãnh đạo để phát huy mạnh nhất tính dân chủ ở trong Đảng cũng như nhà nước.


Điều thứ tư, cần phải tăng cường công tác bồi dưỡng lý luận cho cán bộ Đảng viên, bồi dưỡng tư tưởng giai cấp cho cán bộ Đảng viên. Hiện nay có không ít Đảng viên cấp cao nhưng lại có tư tưởng tư sản, coi thường giai cấp vô sản và quần chúng lao động, không tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Bệnh này được Chủ tịch Hồ Chí Minh, nói rằng đó là bệnh chủ quan, coi khinh lý luận. Những Đảng viên như vậy về thực chất chính là các thành phần cơ hội xét lại trong Đảng. Tuy nhiên công tác giám sát, xử lý kỷ luật vẫn còn chưa nghiêm, để cho các Đảng viên như vậy tùy ý phát biểu, làm sai lệch cả Cương lĩnh Chính trị và đường lối của Đảng. Phát huy dân chủ hoàn toàn không có nghĩa là Đảng viên được quyền ủng hộ các tư tưởng giai cấp chống lại lợi ích của giai cấp vô sản. Bởi lẽ Đảng Cộng sản là lực lượng tiên phong của giai cấp vô sản, bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Những thành phần nào không ủng hộ giai cấp vô sản, không ủng hộ nhân dân lao động, không ủng hộ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải kiên quyết loại trừ ngay và luôn ra khỏi Đảng, để làm trong sạch đội ngũ tư tưởng trong Đảng.


Gần đây có một vụ việc gây bức xúc trong dư luận khi một cán bộ từng công tác trong Ban tuyên giáo lại lên báo viết rằng: “Tuyên giáo là nhằm khai hoá văn minh cho dân tộc”. Thứ nhất từ khai hóa văn minh dân tộc là giọng điệu tuyên truyền xấc xược và bịa đặt của thực dân Pháp khi lấy cớ xâm lược nước ta. Giọng điệu này đã bị chính Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch trần tính chất giả dối, lừa đảo người dân thuộc địa. Hơn nữa lý luận Mác - Lênin đã chỉ ra chính sức mạnh quần chúng nhân dân lao động mới tạo nên lịch sử và văn minh nhân loại, chứ không phải lịch sử do một số ít "siêu nhân", "thánh nhân" tự ý quyết định như Chúa Trời. Phải chăng vị cán bộ này đang đề cao quá sức vai trò của ngành tuyên giáo khi ông ta cho rằng ngành tuyên giáo mới viết lên lịch sử nhân loại rồi sau đó lại còn khẳng định chắc nịch rằng: “Khai hóa văn minh mới là sự dẫn dắt thật sự có ý nghĩa với tiến trình lịch sử. Khi nào các cơ quan lãnh đạo cao nhất lấy sự nghiệp khai hóa văn minh làm nhiệm vụ chính trị hàng đầu, mục tiêu cao nhất thì các mâu thuẫn giữa chính trị và khoa học sẽ không còn nhiều, thậm chí rất ít, chỉ là chuyện kỹ thuật” ???


Trong lịch sử đã từng có một số nhóm và trường phái của các trí thức tiểu tư sản, ví dụ nhóm Hêghen trẻ, cũng có những quan điểm "khai hoá văn minh" tương tự như vậy, họ cho rằng bản thân mình là là những trí thức khoa học hàng đầu của nước Đức đang khai hóa cho quần chúng Đức tăm tối dốt nát. Cái quan điểm này đã bị Mác và Ăngghen, trong tác phẩm "Gia đình thần thánh", vạch trần bản chất phản động, tiểu tư sản nhỏ hẹp và coi thường sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như nhân dân lao động.


Ngoài ra, tác giả bài báo vừa nêu còn nhấn mạnh là phải coi trọng tính khoa học và cho rằng luôn có sự mâu thuẫn giữa khoa học và chính trị, từ đó ông ta lập luận rằng khi đã "khai hóa văn minh" thì không còn mâu thuẫn giữa khoa học và chính trị. Tuy nhiên thực tế vả khoa học và chính trị đều là kiến trúc thượng tầng, nó phát triển trên nền tảng của cơ sở hạ tầng, vậy nên trong chủ nghĩa tư bản thì cả khoa học và chính trị đều mang tính chất giai cấp tư sản và phục vụ cho ý chí, lợi ích của tư sản. Như vậy nếu do giai cấp vô sản nắm quyền lực kinh tế chính trị thì cả khoa học và chính trị cũng đều mang tính chất của giai cấp vô sản. Những luận điểm ảo tưởng rằng khoa học là vô tư khách quan, không bị ràng buộc bởi chính trị, không có tính giai cấp, thật ra đều là luận điểm của giai cấp tư sản để bảo vệ tự do pháp quyền tư sản của chính họ, bảo vệ cho quan điểm "tự do cá nhân" theo kiểu tư sản. Luận điểm này đã bị Lênin phê phán trong các tác phẩm của mình, chính Lênin đã chỉ ra rằng kể cả đến những nhà khoa học chân chính như Adam Smith hay David Ricacdo cũng không thể thoát khỏi nổi tư tưởng tư sản của mình nên lý luận của họ dù là khoa học đến mấy vẫn chỉ là khoa học trong tư tưởng tư sản và phục vụ giai cấp tư sản. Tách rời cho rằng khoa học và chính trị và cho rằng "khai hóa văn minh" kiểu tư sản có thể giải quyết vấn đề này là hoàn toàn sai so với lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Vì vậy nhiệm vụ của Tuyên giáo không phải là "khai hoá văn minh", mà là tuyên truyền lý luận Mác Lênin để cung cấp vũ khí lý luận cho giai cấp vô sản, giúp cho giai cấp vô sản ý thức được sứ mệnh lịch sử của họ càng sớm càng tốt và họ có thể TỰ BẢN THÂN MÌNH hoàn thành sứ mệnh đó.


~~~~~~~~~~~


Như vậy có thể thấy tham nhũng hiện nay không chỉ là vấn đề gây nhức nhối cho toàn xã hội mà đó còn là vấn đề liên quan đến sự tồn vong của chế độ Nhà nước chuyên chính vô sản của Việt Nam. Chính vì vậy việc chống tham nhũng không chỉ là việc riêng của Đảng mà đó là việc của toàn Đảng, toàn dân và chống tham nhũng cũng chính là bảo vệ thành quả cách mạng còn non trẻ của Việt Nam, bảo vệ những gì mà các bậc tiền bối đã giành được cho nhân dân Việt Nam sau cách mạng tháng 8. Chống tham nhũng không chỉ là chống lại tầng lớp đặc quyền trong Đảng và Nhà nước mà xa hơn nó chính là cuộc đấu tranh giai cấp tại Việt Nam trong việc giai cấp vô sản bảo vệ thành quả cách mạng của mình và giai cấp tư sản đang cố gắng vươn lên nắm quyền lực thống trị về kinh tế - chính trị. Bài học của Liên Xô là bài học đau xót của thế kỷ 20 khi mà những thành quả cách mạng đã bị chính những thành phần tham nhũng, đặc quyền đặc lợi phá hủy nghiêm trọng, và chế độ Nhà nước Liên Xô đã sụp đổ chính bởi sự phản bội của những kẻ thoái hoá, biến chất ở bên trong.



Nguồn: https://www.facebook.com/112827646815271/posts/320480622716638/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.